vanban.org

Bản án 88/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 30/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo L.T.P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bì niêm phong, bên trong có 0,099 gam tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine và 0,058 gam chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, bên ngoài có chữ ký của L.T.P, giá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "L.T.P tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo L.T.P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH TRÌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 88/2025/HS-ST
Ngày 30-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Quốc Bình.

Bà Bùi Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Tô Xuân Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/ QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025 đối với:

Bị cáo: L.T.P, sinh năm 19.. tại tỉnh Phú Thọ. Nơi thường trú: Đội .., xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Phòng …, CT.., khu đô thị Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông L.V.N (chết) và bà N.T.Đ (chết); Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ năm; Có vợ là H.T.H.B và 02 con (lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2014); Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/8/2014, bị Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xử phạt 27 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Bị bắt quả tang ngày 08/3/2025, tạm giữ từ ngày 09/3/2025, tạm giam từ ngày 12/3/2025; danh chỉ bản số 146, lập ngày 12/3/2025 tại Công an thành phố Hà Nội. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/3/2025, tổ công tác Công an xã T, huyện T, thành phố Hà Nội nhận được tin báo về việc tại phòng .., CT.., khu đô thị Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội có người nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã kiểm tra hành chính phòng .., CT.., khu đô thị Đ, phát hiện L.T.P đang ở trong phòng. Tại chỗ, P tự lấy 02 gói ma túy trong tất chân đang đi ở chân phải, giao nộp cho tổ công tác, P khai nhận là ma túy P mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa P về trụ sở để làm việc.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội đã trưng cầu giám định số ma túy đã thu giữ của P. Tại Kết luận giám định số 1762/KL-KTHS ngày 17/3/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:“Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,127 gam. Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,068 gam”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, L.T.P đã khai: Do bản thân nghiên ma túy, khoảng 14 giờ ngày 07/3/2025, P đi đến khu vực đường C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, gặp và mua của một nam thanh niên không quen biết 02 gói ma túy dạng đá và Heroine với giá 200.000 đồng về sử dụng. P mang số ma túy trên đi về nhà tại phòng .., CT.., khu đô thị Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, lấy ra một ít sử dụng, số còn lại P cất ở trong người để sử dụng sau. Đến ngày 08/3/2025, P bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt giữ như trên. Lời khai của P phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra.

Đối với nam thanh niên bán ma túy cho P, do P khai nhận không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra dẫn giải P xác định địa điểm mua ma túy nhưng không xác định được người này, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Tại Cáo trạng số 79/CT-VKSTT ngày 07/5/2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố L.T.P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo P khai đã thực hiện hành vi như Cáo trạng truy tố, xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L.T.P mức án từ 24 tháng đến 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo L.T.P không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 08/3/2025, tại phòng .. CT.., khu đô thị Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, L.T.P đang tàng trữ trái phép 0,127 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,068 gam ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân, thì bị Công an xã T phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý, kiểm soát của Nhà nước đối với chất ma túy. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo L.T.P thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L.T.P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo L.T.P có nhân thân xấu, gồm 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đã xóa án tích, thể hiện bị cáo đã được các cơ quan pháp luật giáo dục, nhưng không rèn luyện, mà tiếp tục phạm tội.

Về quyết định hình phạt: Điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo L.T.P, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, do bị cáo L.T.P không có nghề nghiệp, tài sản, nên Tòa án không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,127 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,068 gam ma túy loại Heroine thu giữ của bị cáo L.T.P, là vật cấm tàng trữ, cơ quan giám định đã thu mẫu giám định 0,028 gam Methamphetamine, còn lại 0,099 gam Methamphetamine và thu mẫu giám định 0,010 gam Heroine, còn lại 0,058 gam Heroine, nên phải tịch thu tiêu hủy.

Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo L.T.P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với nam thanh niên bán ma túy cho bị cáo L.T.P: P khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, cơ quan Công an đã tổ chức truy tìm, nhưng không xác định được, nên không có căn cứ xử lý là đúng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo L.T.P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt L.T.P 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/3/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với L.T.P.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bì niêm phong, bên trong có 0,099 gam tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine và 0,058 gam chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, bên ngoài có chữ ký của L.T.P, giám định viên T.H.V và cán bộ N.T.D. Vật chứng đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/5/2025.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo L.T.P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo L.T.P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ