vanban.org

Bản án 88/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lầu Thị S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lầu Thị S 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời ạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LẦU THỊ S - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 88/2025/HSST
Ngày 16 - 04 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân; ông Lò Văn Viễn

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2025/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lầu Thị S, sinh năm 1976, tại huyện Sông M, tỉnh Sơn La;

Nơi cư trú: Bản Co Đ, xã Mường S, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; tôn giáo: Đạo Tin lành; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt nam; con ông Lầu A S (đã chết) và bà Vừ Thị S; bị cáo có chồng là Vàng A D và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2024 cho đến nay; có mặt.

Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Vàng A N, nơi cư trú: Tổ dân phố 7, thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như S:

Hồi 10 giờ 40 phút ngày 27/12/2024 tổ công tác Công an xã Mường S, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ phòng chống ma tuý tại bản Co Đ, xã Mường S phát hiện Lầu Thị S, sinh năm 1976 trú tại bản Co Đ đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma tuý nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Qua làm việc phát hiện trong túi vải đeo phía trước bụng của S chứa 01 lọ nhựa màu đỏ, nắp màu trắng đựng 26 viên nén màu hồng (S khai nhận là Hồng phiến). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ và niêm phong túi vải đựng lọ nhựa chứa 26 viên nén nghi là Hồng phiến.

Cùng ngày tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Hội đồng bóc mở niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả: 26 viên nén màu hồng có khối lượng là 2,53 gam, đã trích 05 viên có khối lượng là 0,48 gam để làm mẫu gửi giám định ký hiệu T. Vật chứng còn lại là 21 viên có khối lượng 2,05 gam ký hiệu T1.

Tại bản kết luận giám định số 168/KL ngày 21/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

- Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,48 gam.

- Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 2,53 gam; loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra bị cáo Lầu Thị S khai nhận hành vi phạm tội như S: Khoảng tháng 6/2024 S đến quê ngoại ở bản Co Mạ, xã Huổi Một, huyện Sông Mã chơi thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông tên Giàng A Nênh (khoảng 40 tuổi, không biết địa chỉ), S đã hỏi và mua ma tuý của Nênh hai lần để sử dụng cho bản thân hết (lần thứ nhất là 04 viên với số tiền 100.000 đồng, lần thứ hai là 02 viên với số tiền 50.000 đồng). Quá trình trao đổi mua bán ma tuý S nói với Nênh là S này có viên Hồng phiến thì đem bán cho S ở bản Co Đ, xã Mường S, huyện Sông Mã. Đến khoảng 00 giờ ngày 27/12/2024, S đang ở nhà một mình tại bản Co Đ, xã Mường S thì thấy Nênh đến chơi, đồng thời hỏi bán Hồng phiến. Nghe vậy, S đồng ý mua Hồng phiến của Nênh nhưng nói chưa có tiền, S này bán ngô xong sẽ trả tiền thì Nênh đồng ý, S đó Nênh lấy ra một lọ nhựa màu đỏ chứa 26 viên Hồng phiến cho S, S nhận lấy và cất đi, còn Nênh đi về. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, S lấy lọ nhựa chứa Hồng phiến cho vào túi vải màu đen đeo trước bụng đem đi làm nương, khi S đang trên đường đi đến khu vực nương thuộc bản Co Đ, xã Mường S thì gặp tổ công tác làm nhiệm vụ, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu.

Cáo trạng số 65/CT-VKSSM ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo Lầu Thị S về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lầu Thị S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lầu Thị S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lầu Thị S từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 06 tháng tù;

Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX:

- Tịch thu để tiêu hủy 2,05 gam ma túy, loại Methamphetamine đựng trong túi nilon màu trắng; 01 lọ nhựa màu đỏ nắp màu trắng đựng vật chứng ban đầu; 01 túi vải màu đen có thêu hoa văn.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.

Bị cáo Lầu Thị S không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, khi được nói lời S cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cở sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như S:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 27/12/2024 bị cáo Lầu Thị S đã có hành vi tàng trữ 2,53 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; phát biểu luận tội của của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị mức xử phạt tù giam đối với bị cáo về tội danh nêu trên là phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Lầu Thị S thực hiện đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Về tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các vấn đề có liên quan: Số ma túy thu giữ trong vụ án, Lầu Thị S khai nhận mua từ một người đàn ông dân tộc Mông tên Giàng A Nênh (khoảng 40 tuổi, không rõ danh tính) đem đến nhà của S, trước đây S đã gặp và mua ma tuý hai lần ở bản Co Mạ, xã Huổi Một, huyện Sông Mã. Tiến hành xác minh tại bản Co Mạ, xã Huổi Một không có ai tên Giàng A Nênh; mở rộng phạm vi xác minh trên địa bàn xã Huổi Một, huyện Sông Mã xác định có hai người đàn ông tên Giàng A Nênh, sinh năm 1984 trú tại bản Pa Tét và Giàng A Nênh, sinh năm 1974 trú tại bản Phá Thóng. Tuy nhiên, kết quả nhận dạng bị cáo S xác định không phải người tên Giàng A Nênh đã từng bán ma tuý cho bị cáo. Do bị cáo không biết tên, tuổi và địa chỉ của người này nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ để xác minh, làm rõ trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo Lầu Thị S là người dân tộc, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Lầu Thị S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lầu Thị S 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời ạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2024.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu để tiêu hủy 2,05 gam ma túy, loại Methamphetamine đựng trong túi nilon màu trắng; 01 lọ nhựa màu đỏ nắp màu trắng đựng vật chứng ban đầu.

(các vật chứng được đựng trong một phong bì thư do Công an tỉnh Sơn la phát hành được niêm phong mã số 0005381).

- 01 túi vải có thêu hoa văn.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 48/QĐ-VKS ngày 31/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 30 phút ngày 31 tháng 3 năm 2025 giữa Công an tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Lầu Thị S được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/4/2025).

Cỡ chữ