- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12/9/2025 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Th m phán - Ch t a phiên tòa: Ông Lương Ngọc Dũng.
Các Hội th m nhân dân:
1. Bà Trương Thị Thu Thuỷ.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thảo Vy - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ, Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 401/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 348/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1968, địa chỉ: Ấp Mỹ A, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (Nay là ấp Mỹ A, xã Vĩnh T, tỉnh An Giang). Chỗ ở hiện nay: Ấp Bình H, xã Bình T, huyện Châu P, tỉnh An Giang (Nay là ấp Bình H, xã Bình M, tỉnh An Giang), có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Văn D, sinh năm 1970, địa chỉ: Ấp Mỹ A, xã M, huyện Châu P, tỉnh An Giang (Nay là ấp Mỹ A, xã Vĩnh T, tỉnh An Giang), có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 28 tháng 5 năm 2025, bản tự khai, biên bản hoà giải và tại phiên toà nguyên đơn là bà Lê Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1991, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu sống hạnh phúc, về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không còn hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thường xuyên tranh cải làm ảnh hưởng hạnh phúc gia đình, hiện bà và ông D đã sống ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung nên bà L yêu cầu ly hôn với ông D.
Về con chung: Bà và ông D có 04 người con chung tên Lê Văn D, sinh năm 1992, Lê Thị Bích L, sinh năm 1994, Lê Văn T, sinh năm 1996 và Lê Văn N, sinh năm 1998, hiện các con chung đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông D đến trụ sở Tòa án để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải về yêu cầu khởi kiện của bà L nhưng ông D vắng mặt không có lý do, nên Toà án không ghi nhận được ý kiến trình bày của ông D.
Tại phiên toà:
- Bà Lê Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu.
- Bị đơn ông Lê Văn D trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1991, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu sống hạnh phúc, về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không còn hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thường xuyên tranh cải làm ảnh hưởng hạnh phúc gia đình, hiện ông và bà L đã sống ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung nên bà L yêu cầu ly hôn với ông D thì ông D cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông và bà L có 04 người con chung tên Lê Văn D, sinh năm 1992, Lê Thị Bích L, sinh năm 1994, Lê Văn T, sinh năm 1996 và Lê Văn N, sinh năm 1998, hiện các con chung đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – An Giang:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ đúng quy định pháp luật. Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định tố tụng tại phiên toà.
- Về việc chấp hành pháp luật: Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 14, 51, 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà L và ông D là vợ chồng.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, người tham gia tố tụng và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Nguyên đơn có đơn khởi kiện tại Tòa án và đã nộp tạm ứng án phí nên Tòa án thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà L và ông D tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1991, không có đăng ký kết hôn. Theo lời khai của bà L và ông D thì mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chung sống là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thường xuyên tranh cải làm ảnh hưởng hạnh phúc gia đình, hiện bà L và ông D đã sống ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung nên bà L yêu cầu ly hôn với ông D và ông D cũng đồng ý ly hôn.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng. Do đó, bà L và ông D tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1991 đến nay không đăng ký kết hôn nên quan hệ giữa bà L và ông D không được công nhận là vợ chồng.
Về con chung: Bà L và ông D có 04 người con chung tên Lê Văn D, sinh năm 1992, Lê Thị Bích L, sinh năm 1994, Lê Văn T, sinh năm 1996 và Lê Văn N, sinh năm 1998, hiện các con chung đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L và ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí:
Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L.
1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Lê Thị L và ông Lê Văn D là vợ chồng.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009920 ngày 20 tháng 6 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Phú (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 13 – An Giang). Ông Lê Văn D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện KSND khu vực 13 – An Giang; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Phòng THADS khu vực 13 – An Giang; - UBND xã Vĩnh Thạnh Trung; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Văn phòng. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Lƣơng Ngọc Dũng |