vanban.org

Bản án 88/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H.

Về hôn nhân: ông Lê Văn H được ly hôn với bà Đoàn Thị T. Về con chung: Giao cho bà Đoàn Thị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Lê Phương A, sinh ngày 27/10/2022 đến thành niên hoặc tự lập được; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14 – 8 – 2025
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Bích Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Ngân

2. Bà Huỳnh Thị Thể Phượng

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Linh Thi - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Thiện - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 257/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2025 giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1984 (đơn yêu cầu vắng mặt).

Số CCCD số xxxxxxxxxxxxx, ngày cấp //, do Cục C về trật tự xã hội cấp. Số điện thoại: xxxx.xxxxxx;

Nơi cư trú: tổ A, ấp H, xã H, tỉnh An Giang.

2.Bị đơn: Bà Đoàn Thị T, sinh năm 1986, (có mặt tại phiên tòa).

Số CCCD xxxxxxxxxxxx. Số điện thoại: xxxx.xxxxxx;

Nơi cư trú: tổ I, ấp H, xã H, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 03/02/2025, bản tự khai, các biên bản nguyên đơn ông Lê Văn H trình bày:

Ông H và bà T quen biết nhau năm 2022 và tự nguyện chung sống, đến năm 2024 đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 26/3/2024. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 9 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã về vấn đề tiền bạc bởi bì ông bị thất nghiệp, không có thu nhập; vì vậy, bà T và gia đình bà không tôn trọng ông, có nhiều lời nói xúc phạm ông, không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa nên ông bỏ đi làm ở nhiều nơi, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2024 cho đến nay. Hiện tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với bà Đoàn Thị T.

- Về con chung: có 01 con chung tên Lê Phương A, sinh ngày 27/10/2022 hiện do bà T chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay ông H đồng ý bà T tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, ông H tự nguyện cấp dưỡng cho con 1.500.000đ/tháng đến khi con chung thành niện hoặc tự lập được.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ngoài ra không có ý kiến nào khác.

- Tại phiên tòa, bị đơn bà Đoàn Thị T trình bày: thống nhất lời trình bày của ông H về thời gian kết hôn, con chung, mâu thuẫn vợ chồng và thời gian ly thân; nay ông H yêu cầu ly hôn bà đồng ý; về con chung bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và thống nhất mức ông H cấp dưỡng cho con là 1.500.000đ/tháng. Về tài sản chung không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 -An Giang:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Hôn nhân của ông H, bà T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nay ông H yêu cầu ly hôn với bà T. Về con chung, có 01 con chung, hiện đang sống với bà T. Ông H đồng ý cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và ông tự nguyện cấp dưỡng cho con 1.500.000đ/tháng nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà T và tranh chấp nuôi con nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: bà Đoàn Thị T là bị đơn có nơi cư trú tại ấp H, xã H, tỉnh An Giang, căn cứ điểm a khoản Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – An Giang.

Ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: ông Lê Văn H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Đoàn Thị T. Xét chứng cứ có trong hồ sơ cùng kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa thể hiện, hôn nhân của ông H bà T được xác lập năm 2024 trên cơ sở tự tìm hiểu và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng đã ly thân từ tháng 9 năm 2024 đến nay. Trong quá trình ly thân vợ chồng không hàn gắn được tình cảm, mỗi người sinh sống mỗi nơi, không ai quan tâm ai, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, ông H yêu cầu ly hôn, tại phiên tòa bà T cũng đồng ý ly hôn nên yêu cầu ly hôn của ông H được chấp nhận theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: có 01 con chung tên Lê Phương A, sinh ngày 27/10/2024 hiện nay đang sống với bà T. Ông H thống nhất giao con chung cho bà T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông H ông tự nguyện cấp dưỡng cho con 1.500.000đ/tháng đến khi con chung thành niên hoặc tự lập được.

Xét thấy, sau khi ly thân đến nay con chung tên Lê Phương A do bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đảm bảo phát triển bình thường về thể chất, tinh thần và cháu Phương A hiện chưa đủ 36 tháng tuổi nên căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cần giao con chung cho bà T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng khi đến thành niên hoặc tự lập được. Ghi nhận ông H tự nguyện cấp dưỡng cho con 1.500.000đ/tháng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 14/8/2025 đến khi con chung thành niện hoặc tự lập được. Bà T phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi ông H đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Mặt khác, nếu có căn cứ cho rằng, bà T không còn đảm bảo các điều kiện nuôi dạy con hoặc có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con thì ông H có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Ông H phải chịu án phí theo qui định pháp luật. Bà T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 và Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H.

1. Về hôn nhân: ông Lê Văn H được ly hôn với bà Đoàn Thị T.

2. Về con chung: Giao cho bà Đoàn Thị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Lê Phương A, sinh ngày 27/10/2022 đến thành niên hoặc tự lập được;

Ông Lê Văn H cấp dưỡng cho con mỗi tháng là 1.500.000đ đến khi con chung Lê Phương A thành niên hoặc tự lập được. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 14/8/2025 đến khi con chung thành niên hoặc tự lập được.

Bà Đoàn Thị T phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi ông Lê Văn H đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Lê Văn H phải chịu án phí là 300.000đ, án phí cấp dưỡng 300.000đ, tổng cộng là 600.000đ, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012072 ngày 14/5/2025 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – An Giang) còn lại 300.000đ ông H phải tiếp tục nộp.

Bà Đoàn Thị T không phải chịu án phí.

Bà Đoàn Thị T được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lê Văn H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ