vanban.org

Bản án 88/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 27/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lương Văn Đ phạm tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Đ phạm tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy” điểm c khoản 1 DD249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN GIANG
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HSST
Ngày: 27/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Vũ Thu Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Minh Tiếp và ông Nguyễn Quốc Doanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thoa - Thư ký TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện VKSND huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 27/6/2024, tại Nhà văn hóa thôn 12, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tòa án nhân dân huyện Văn Giang xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 10/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HS ngày 14/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Văn Đ. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh năm: 1964; Tại: thành phố SC, tỉnh TN. Nơi ĐKHKTT: TP, phường LS, thành phố SC, tỉnh TN. Quốc tịch:Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 07/12 Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Lương Văn N (đã chết) và bà: Đào Thị H, có 1 con sinh năm 1991. Tiền án, tiền sự: chưa có. Nhân thân: Năm 1994 bị Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái (nay là thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) xử phạt 36 tháng tù về tội Hiếp dâm. Năm 1998 bị UBND tỉnh Thái Nguyên quyết định đưa đi giáo dục tại cơ sở giáo dục Thanh Hà về hành vi Cố ý gây thương tích. Ngày 22/9/2000 Đ chấp hành xong quyết định, trở về địa phương. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2024 đến ngày 18/01/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên.

*Người làm chứng:

Đào Thị Thanh H, sinh năm: 1972

Địa chỉ: Thôn T, xã VK, huyện VG, tỉnh HY.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, tại đường Tô Quyền thuộc thôn Tam Kỳ, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên; Công an xã Phụng Công phối hợp với Công an xã Nghĩa Trụ phát hiện, bắt quả tang Lương Văn Đ, sinh năm 1964, đăng ký hộ khẩu thường trú (ĐKHKTT) tại tổ P, phường LS, thành phố SC, tỉnh TN đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy trên người. Thu giữ tại túi áo ngực phía trước bên phải của Đ đang mặc: 01 ví da màu nâu đựng 11 gói nilon nhỏ mầu trắng trong suốt có kích thước không đồng đều, một đầu được hàn kín, bên trong đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột (được tiến hành niêm phong trong phong bì kí hiệu N1); ngoài ra còn thu giữ của Đ 01 căn cước công dân mang tên Lương Văn Đ.

Ngay sau đó, Công an xã Phụng Công đã bàn giao Đ cùng vật chứng, đồ vật có liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang để giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ tại thôn TK, xã NT, huyện VG; đồng thời đưa Đ đến Trung tâm y tế huyện Văn Giang để xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể; Quyết định trưng cầu giám định chất ma túy đã thu giữ của Đ trong phong bì niêm phong kí hiệu N1. Kết quả khám xét khẩn cấp: không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì có liên quan. Kết quả xét nghiệm xác định Đ dương tính với ma túy loại MOP. Tại bản Kết luận giám định số 190/KL-KTHS(MT) ngày 18/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu N1, có tổng khối lượng là 0,477gam, là ma túy loại Heroine (Heroin). Hoàn lại mẫu vật sau giám định, gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,446g ma túy, loại Heroine (Heroin); các mảnh nilon gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Quá trình điều tra, Lương Văn Đ khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, trên đường về nhà trọ ở thôn Tam Kỳ, thì Đ gặp người đàn ông (chưa rõ lai lịch) nghi có biểu hiện bán ma túy, nên Đ hỏi mua ma tuý loại Heroin với số tiền 1.200.000đ, thì được người này đưa cho 12 gói nilon nhỏ màu trắng trong suốt; bên trong 12 gói này đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột là ma túy, loại Heroin. Đ cất 12 gói ma túy vào trong ví rồi đi ra khu vực cánh đồng gần đó (không nhớ vị trí cụ thể) sử dụng hết 1 gói, còn lại 11 gói Đ vẫn để ở trong ví và cất giấu tại túi áo ngực phía trước bên trái. Sau đó, Đ đi bộ về gần đến nhà trọ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ chiếc ví bên trong có 11 gói ma túy như nêu ở trên.

Ngày 24/5/2024, Công an huyện Văn Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với Lương Văn Đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 15/01/2024. Đối với người bán ma túy cho Đ, do không rõ lai lịch, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Tại phiên toà hôm nay:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, tỏ thái độ ăn năn hối cải.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang nêu quan điểm: Sự vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa không ảnh hưởng tới việc xét xử bị cáo đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án. Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Lương Văn Đ. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ chứng minh tội phạm, phân tích tính nguy hiểm của tội phạm do các bị cáo gây ra, hậu quả của hành vi đối với xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện VKSND huyện Văn Giang đề nghị HĐXX: Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38; Điểm a, b khoản 1 điều 46; Điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 1, Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Khoản 1 điều 293; Điều 299; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Lương Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt Lương Văn Đ từ 01 năm 06 tháng đến 01năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tính từ ngày 15/01/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về biện pháp tư pháp và vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,446g ma túy, loại Heroine (Heroin); các mảnh nilon gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước 01 ví da màu nâu. Trả lại bị cáo Lương Văn Đ 01 căn cước công dân mang tên Lường Văn Đ. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo không tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo trình bày bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

- Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.

- Người làm chứng vắng mặt không có lý do, bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy những người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

. Về hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, tại đường Tô Quyền thuộc thôn Tam Kỳ, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang; Công an xã Phụng Công phối hợp với Công an xã Nghĩa Trụ bắt quả tang Lương Văn Đ đang có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,477 gam ma túy loại Heroine (Heroin). Mục đích Đ cất giấu số ma túy nói trên là để sử dụng dần.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bản thân sử dụng ma túy nên vẫn cố ý thực hiện mua ma túy cất giấu để sử dụng nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo như bản Cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất gây nghiện, tiếp tay cho các đối tượng mua bán và sử dụng chất ma túy, là nguồn gốc phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây hoang mang lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người sử dụng chất ma túy, để thỏa mãn nhu cầu của mình đã bất chấp tác hại của ma túy đối với bản thân, đối với cộng đồng, bất chấp pháp luật cố ý tàng trữ để sử dụng. Chứng tỏ bị cáo rất liều lĩnh, coi thường pháp luật nên cần xử lý bị cáo bằng một bản án thật nghiêm khắc.

Địa điểm mà bị cáo tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy gần công trường đang xây dựng của khu đô thị nơi có hàng ngàn công nhân, đặc biệt là những công nhân từ các tỉnh miền núi phía bắc đến làm việc, trong đó có nhiều đối tượng nghiện ma túy. Vì vậy việc xử phạt các bị cáo không chỉ nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo mà còn nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm về ma túy đã, đang và sẽ diễn ra tại khu đô thị trên địa bàn huyện Văn Giang còn nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật trong quần chúng nhân dân, để từ đó có thái độ tôn trọng pháp luật, phối hợp cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật đấu tranh phòng, chống và loại trừ loại tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội, góp phần giữ gìn anh ninh chính trị và an toàn xã hội.

. Về vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, có nhân thân xấu đã từng bị kết án và xử lý hành chính. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ quy định của pháp luật, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX xét thấy, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu, đã từng vi pháp pháp luật một lần bị kết án, một lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn sử dụng ma túy và tiếp tục phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chứng tỏ bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, giúp bị cáo cai nghiện được ma túy, cũng như góp phần phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Đ, Cơ quan điều tra Công an huyện Văn Giang đã điều tra nhưng không xác định được nhân thân, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

01 phong bì niêm phong bên trong có 0,446g ma túy, loại Heroine (Heroin); các mảnh nilon gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định, 01 ví da màu nâu là chất Nhà nước cấm lưu hành và đồ vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 căn cước công dân mang tên Lường Văn Đ là giấy tờ tùy thân của bị cáo, nên trả lại bị cáo

. Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luât.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ :

- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Khoản 1, Điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Khoản 1 điều 293; Điều 299; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

2.Tuyên bố:

Bị cáo Lương Văn Đ phạm tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy”

3. Hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lương Văn Đ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.

4. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,446g ma túy, loại Heroine (Heroin); các mảnh nilon gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định, 01 ví da màu nâu.

Trả lại bị cáo Lương Văn Đ 01 căn cước công dân mang tên Lường Văn Đ.

5. Về án phí: Bị cáo Lương Văn Đoàn phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án.

Cỡ chữ