- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoàng N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Trần Hoàng N 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/01/2024.
- Căn cứ chính? Luật phí và lệ phí Tòa án; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2024/HS-ST Ngày: 08/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Hồng Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thanh Nga
2. Bà Lê Thị Kim Lệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thủy Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2024/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Hoàng N; Giới tính: Nam; sinh năm 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không có; Nơi cư trú: Số A T, Phường M, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không có; Trình độ văn hóa: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không có; Con ông Hoàng Văn C và bà Trần Thị N2; Vợ là Nguyễn Thị T A và có 01 con chung, sinh năm 2001; Tiền án: Không có; Tiền sự: Không có; Nhân thân: Ngày 19/9/1999, Công an quận Bình thạnh xử phạt hành chính về việc “Trộm cắp tài sản”; Ngày 20/12/2000, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 30 tháng tù về tội “ Cướp giật tài sản” theo Bản án số 2947/HSST; Ngày 12/8/2003, Tòa án nhân dân Quận 4 xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 72/HSST và ngày 25/5/2016, Tòa án nhân dân Quận 4 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cái nghiện bắt buộc thời hạn là 24 tháng.
Bị tạm giữ, tạm giam ngày 14/01/2024.
(có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Hoàng N là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 14/01/2024, N điều khiển xe đạp màu hồng, hiệu Asama đến khu vực đường B, Quận 1 gặp người phụ nữ 50 tuổi (không rõ lai lịch) mua 150.000 đồng ma túy để sử dụng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/01/2024, tổ tuần tra Công an Quận 4 tiến hành tuần tra đến trước Số C T, Phường M, Quận 4 phát hiện N điều khiển xe đạp, có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi áo bên trái của N có 01 gói nylon, bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng rắn nghi là ma túy, nên tổ tuần tra Công an Quận 4 tiến hành thu giữ vật chứng, đưa Trần Hoàng N cùng phương tiện về trụ sở Công an Phường M, Quận 4 lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại Kết luận giám định số 1336/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Bột màu trắng trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trần Hoàng N và hình dấu Công an Phường M, Quận 4 là ma túy ở thể rắn, loại Heroine, có khối lượng là 0,3488 gam.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 4, Trần Hoàng N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, kết quả xét nghiệm N dương tính ma túy.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho N, không xác định được nhân thân lai lịch, nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với xe đạp màu hồng, hiệu Asama, đã qua sử dụng, qua xác minh, xe này của bà Trần Thị N2 là mẹ của bị cáo N, N tự ý lấy xe đi mua ma túy, bà Nhiều không biết, nên không liên quan đến vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 4 đã trả xe và bà Nhiều đã nhận lại xe trên.
Vật chứng vụ án: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký, dấu vân tay ghi tên Trần Hoàng N và hình dấu Công an Phường M, Quận 4, bên trong là mẫu vật ma túy thu giữ còn lại sau giám định.
Tại Bản cáo trạng số 90/CT-VKSQ4 ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị cáo Trần Hoàng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo N có lời khai phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời, bản thân bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, nên xin Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố Trần Hoàng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Căn cứ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đề nghị tuyên phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; Miễn hình phạt bổ sung; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Hoàng N và hình dấu Công an Phường M, Quận 4, bên trong là mẫu vật ma túy còn lại sau giám định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Hoàng N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 14/01/2024, tại Số C T, Phường M, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, tổ tuần tra Công an Quận 4 phát hiện, bắt quả tang Trần Hoàng N đã có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy có khối lượng là 0,3488 gam, loại Heroin, nhằm mục đích sử dụng. Hội đồng xét xử xét hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cho nên, truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bản thân bị cáo đã chấp hành án, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng bị cáo không thay đổi, bị cáo biết rõ hành vi cất giấu ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, thể hiện bị cáo xem thường pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung tội phạm cho xã hội. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên khi lượng hình cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Ngoài ra, Hội đồng xét xử xét bị cáo phạm tội không vụ lợi, là lao động tự do, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về xử lý vật chứng: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký, dấu vân tay ghi tên Trần Hoàng N và hình dấu Công an Phường M, Quận 4, bên trong là mẫu vật ma túy thu giữ còn lại sau giám định, xét đây là vật cấm tàng trữ, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Trần Hoàng N 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/01/2024.
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký, dấu vân tay ghi tên Trần Hoàng N và hình dấu Công an Phường M, Quận 4, bên trong là mẫu vật ma túy thu giữ còn lại sau giám định.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nôi nhaän:
| - Bị cáo; (1) - CA TP.HCM (PC 53); (2) - VKSND TP.HCM (1) - TAND TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - VKSND Quận 4; (2) - Công An Quận 4; (2) - Chi cục THADS Quận 4; (1) - Chi cục THAHS Quận 4; (3) - Lưu VT, hồ sơ. (2) HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Võ Thanh Nga Lê Thị Kim Lệ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trần Hồng Loan THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trần Hồng Loan |