- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn Trần Thị Mộng D với Nguyễn Chí T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Mộng D đối với anh Nguyễn Chí T. Cho ly hôn giữa chị Trương Thị Mộng D đối với anh Nguyễn Chí T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH E | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12-8-2024 Về việc tranh chấp: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH E
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Tuấn Khanh;
Ông Đặng Hoàng Mích.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Đinh Quốc Hiếu – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh E.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: ông Phan Hoàng Quí – Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh E xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2024/TLST – HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trương Thị Mộng D, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện B, tỉnh E.
Chị Trương Thị Mộng D có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 03/01/2024
- Bị đơn: Nguyễn Chí T, sinh năm 1995 (Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Q, xã L2, huyện B, tỉnh E.
anh T có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 01/07/2024
NỘI D VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai đề ngày 20/03/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị Mộng D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Chí T cưới nhau vào năm 2019 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L vào ngày 12/8/2019 Thời gian đầu có hạnh phúc nhưng đến năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tính không hòa hợp, thường xuyên cự cãi chính vì vậy mâu thuẫn luôn xảy ra, vợ chồng ly thân từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T nên không thể hàn gắn lại được mà yêu cầu được ly hôn.
- Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên là Nguyễn Ngọc Khánh Vy, sinh ngày 19/05/2021, hiện con chung đang sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu xin nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Chị D xác định để hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 01/07/2024, bị đơn anh Nguyễn Chí T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: anh và chị D cưới nhau vào năm 2019 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L vào ngày 12/8/2019 Thời gian đầu có hạnh phúc nhưng đến năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do nhiều vấn đề nhưng trong đó chủ yếu là lí do về kinh tế, nhưng mâu thuẫn cũng không có gì lớn lao, anh vẫn thương vợ con rất nhiều, anh xin thời gian cho vợ chồng hàn gắn. Hiện tại vợ chồng ly thân từ tháng 12 năm 2023 cho đến nay, anh cũng có đến thăm con nhưng vợ chồng không nói chuyện với nhau, việc ai người đó làm. Nay qua yêu cầu ly hôn của chị D thì anh không đồng ý.
- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Khánh Vy, sinh ngày 19/5/2021, hiện cháu đang sống với mẹ. Nếu Tòa án cho ly hôn thì hiện cháu còn nhỏ nên anh đồng ý để cho vợ nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Anh T trình bày để hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh T trình bày không có.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh E tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến:
- Về tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tuân theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt là phù hợp quy định pháp luật.
- Về nội D:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D đối với anh T. Về con chung: Đề nghị giao con chung Nguyễn Ngọc Khánh Vy, sinh ngày 19/5/2021 cho chị D nuôi dưỡng, anh T cũng đồng ý để chị D nuôi con chung. Ghi nhận sự tự nguyện chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: tự thỏa thuận, nợ chung: Không có, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1]. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị Mộng D, bị đơn ông Nguyễn Chí T có đơn xin xét xử vắng mặt đề, và được Hội đồng xét xử chấp nhận do đó Tòa án xét xử vắng mặt bà là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội D:
. Về quan hệ hôn nhân: chị Trương Thị Mộng D và anh Nguyễn Chí T cưới nhau vào năm 2019 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B vào năm 2019 theo đúng quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh T được công nhận hợp pháp.
Nay chị D yêu cầu ly hôn, anh T không đồng ý ly hôn vì vẫn còn thương vợ con. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong đó có biên bản xác minh tại chính quyền địa phương, cũng như lời khai của chị D và anh T đều xác định được cuộc sống vợ chồng của anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, cũng chính vì vậy mà cuộc sống vợ chồng luôn mâu thuẫn sống không hạnh phúc, đã ly thân từ tháng 12 năm 2023 cho đến nay, hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai, giữa chị D và anh T đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình.
Hơn nữa, Toà án đã tiến hành mời chị D và anh T để hoà giải, nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh T, chị D vẫn vắng mặt vì không muốn hòa giải, cho thấy anh chị đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân của chị D và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị D là có cơ sở và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D và anh T.
. Về nuôi con chung: Khi ly hôn, có 01 con chung tên 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Khánh Vy, sinh ngày 19/5/2021, khi ly hôn chị D yêu cầu được nuôi con chung, anh T đồng ý để chị Dương nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy: anh T đồng ý để chị Dương nuôi và chị Dương cũng có yêu cầu được nuôi con chung. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu Vy, hiện cháu đang do chị D trực tiếp nuôi dưỡng, việc chị D nuôi con chung vẫn phát triển bình thường. Nên để nhằm ổn định về tinh thần của con chung anh và chị, cần để cháu Vy cho chị Dương nuôi dưỡng cũng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận giao cháu Vy cho chị Dương nuôi .
. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D nuôi con chung nhưng không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận và không xét đến.
. Về tài sản chung: chị D anh T khai tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
. Về nợ chung: chị D anh T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét đến
. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Chị Trương Thị Mộng D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Mộng D đối với anh Nguyễn Chí T. Cho ly hôn giữa chị Trương Thị Mộng D đối với anh Nguyễn Chí T.
Quan hệ hôn nhân giữa chị Trương Thị Mộng D đối với anh Nguyễn Chí T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao con chung Nguyễn Ngọc Khánh Vy, sinh ngày 19/5/2021 cho chị Trương Thị Mộng D trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Ghi nhận sự tự nguyện chị Trương Thị Mộng D nuôi con chung không yêu cầu anh Nguyễn Chí T cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Chí T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Chị Trương Thị Mộng D trực tiếp nuôi con cùng các T viên gia đình không được cản trở anh Nguyễn Chí T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: hai bên tự thỏa thuận, nên không xét đến.
4. Về nợ chung: hai bên khai không có, nên không xét đến.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Chị Trương Thị Mộng D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Phượng đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003288 ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh E. Như vậy, chị Trương Thị Mộng D đã nộp đủ án phí.
Chị Trương Thị Mộng D, anh Nguyễn Chí T vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh E (phòng KTNV và THA); - VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - UBND xã L; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã Ký Lê Thị Thu Hương |