- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Trà M ly hôn anh Trần Chí N.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28 – 6 – 2023 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Hồng Lành
2. Ông Trần Văn Phước
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Trường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Trà M, sinh năm 2000. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. (Vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Trần Chí N, sinh năm 1991; Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Trà M trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh N tự N sống chung từ năm 2020, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tạ An Khương và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 17/3/2021. Chị và anh N đã ly thân từ tháng 3/2023 đến nay vợ chồng sống chung không hạnh phúc. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh N.
Về con chung: Chị và anh N có 01 người con chung là Trần Chí Đ, sinh ngày 04/11/2021, hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Trần Chí N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Về hôn nhân: Căn cứ theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho chị M được ly hôn với anh N.
+ Về con chung: Giao cháu Trần Chí Đ, sinh ngày 04/11/2021 cho chị M được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
+ Về cấp dưỡng: Căn cứ khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, buộc anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trần Chí Đ, sinh ngày 04/11/2021 số tiền 745.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Đ tròn 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng, bị đơn phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh N, anh N đang cư trú trên địa bàn huyện Phước Long nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị M có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt chị M và anh N là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị M và anh N tự N sống chung từ năm 2020 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định nên hôn nhân giữa chị M và anh N là hôn nhân hợp pháp, tuy nhiên chị M và anh N đã ly thân từ tháng 3/2023 đến nay. Xét thấy theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng chị M và anh N không sống chung với nhau mà hai bên không có hành động gì để hàn gắn hôn nhân. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh N không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị M, như vậy anh N đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân này. Từ đó cho thấy hôn nhân của chị M và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không Đ được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, cho chị M được ly hôn với anh N.
Về con chung: Căn cứ theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do chị M cung cấp và lời khai của chị M thì chị M và anh N có một người con chung là Trần Chí Đ, sinh ngày 04/11/2021, hiện đang sống chung với chị M. Chị M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Anh N đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu nuôi con chung của chị M nhưng anh N không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu của chị M. Xét thấy, cháu Đ dưới 36 tháng tuổi và sống cùng với chị M từ khi ly thân đến nay, hiện cháu Đ phát triển tốt, chị M có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Do đó căn cứ vào khoản 2 và khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu Đ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M: Giao cháu Trần Chí Đ, sinh ngày 04/11/2021 cho chị M được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Xét thấy theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Vì vậy, chị M yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật là có căn cứ nên được chấp nhận. Theo quy định pháp luật thì mức cấp dưỡng mỗi tháng không thấp hơn ½ mức lương cơ sở (mức lương cơ sở hiện nay là 1.490.000 đồng/tháng). Do đó, buộc anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trần Chí Đ, sinh ngày 04/11/2021 với mức cấp dưỡng là 745.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Đ tròn 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm (là ngày 28/6/2023).
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh N phải chịu án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 19, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Trà M ly hôn anh Trần Chí N.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Chí Đ, sinh ngày 04/11/2021 cho chị Nguyễn Trà M được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Trần Chí N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Buộc anh Trần Chí N có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trần Chí Đ, sinh ngày 04/11/2021 với mức cấp dưỡng là 745.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Đ tròn 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 28/6/2023.
3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Trà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị M đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012665 ngày 04 tháng 5 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được chuyển sang thu án phí. Anh Trần Chí N phải chịu án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự N thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Phước Long; - Chi cục THADS huyện Phước Long; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yến Ly |