vanban.org

Bản án 88/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Tòa án Tỉnh. VKS huyện. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa chị H và anh A"
  • Tòa quyết gì? TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA HƯNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 22 - 6 - 2023.
V/v ly hôn giữa chị H và anh A.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Chủng. Các hội thẩm nhân dân: 1.

Ông Lê Văn Chỉnh. 2.

Ông Đàm Văn Kiều.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng. Ngày 22 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2023/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023. Về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 33/2023/QĐST – HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự: + Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hồng H – Sinh năm 1995. Địa chỉ: Xóm X, xã N, huyện N0, tỉnh Nam Định. + Bị đơn: Anh Nguyễn Văn A – Sinh năm 1987. Địa chỉ: Xóm X, xã N, huyện N0, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa có mặt chị H, vắng mặt anh A.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện lập ngày 28/02/2023 cũng như lời khai chị Trần Thị Hồng H tại những buổi làm việc với Tòa án thể hiện: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn A vào tháng 9/2014 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N0, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và trầm trọng nhất vào năm 2019. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, anh A mải chơi không quan tâm đến gia đình. Mặc dù chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh A vẫn không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọ ng. Đến tháng 8/2022 thì vợ chồng chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh A không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn A. Về con chung: Giữa chị và anh A có hai con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 09/7/2015 và cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 05/9/2017. Hiện cháu K đang do anh A chăm sóc nuôi dưỡng còn cháu C đang do chị chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn chị xin nhận trực tiếp nuôi cháu C và để anh A trực tiếp nuôi cháu K. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí chị H đề nghị giải quyết theo quy định. Tại phiên toà hôm nay anh Nguyễn Văn A vắng mặt. Anh A có đề nghị yêu cầu không tiến hành hòa giải và xét xử vắng mặt. Lời khai của anh A tại các buổi làm việc với Tòa án thể hiện: Anh kết hôn với chị H vào tháng 9/2014 kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh mải chơi game ít quan tâm đến vợ con. Sau đó anh phát hiện chị H có biểu hiện sống không chung thủy với anh và anh có đ ộ ng viên khuyên giải nhưng chị H vẫn không thay đổi. Nay chị H xin ly hôn anh thì anh không nhất trí ly hôn với chị Trần Thị Hồng H còn nếu chị H muốn ly hôn xin ly hôn thì tùy. Về con chung: Giữa anh và chị H có hai con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 09/7/2015 và cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 05/9/2017. Hiện cháu K đang do anh chăm sóc nuôi dưỡng còn cháu C đang do chị H chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn anh xin nhận trực tiếp nuôi cháu K và để chị H trực tiếp nuôi cháu Khôi. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Anh A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Chị Trần Thị Hồng H và anh Nguyễn Văn A đều cư trú tại huyện N0. Nay chị Trần Thị Hồng H xin ly hôn anh Nguyễn Văn A thì Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Văn A vắng mặt nhưng anh A nhưng anh A có đề nghị xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh A là phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Trần Thị Hồng H và anh Nguyễn Văn A vào tháng 9 năm 2014 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồ ng bất đồng về quan điểm không tin tưởng nhau. Đến tháng 08/2022 thì vợ chồng chị H anh A sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giải quyết vợ chồng được ly hôn và anh A không nhất trí ly hôn với chị H còn nếu chị H muốn ly hôn xin ly hôn thì tùy. Hội đồng xét xử thấy: Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh A đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị H xin ly hôn anh A nên chấp nhận là phù hợp. Phía anh A không nhất trí ly hôn nhưng từ khi hai vợ chồng ly thân đến nay tình cảm vợ chồng vẫn không đ ư ợ c cải thiện nên khả năng đoàn tụ không còn nên không được chấp nhận. [3] Về con chung: Chị Trần Thị Hồng H và anh Nguyễn Văn A đều thống nhất xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 09/7/2015 và cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 05/9/2017. Hiện cháu K đang do anh A chăm sóc nuôi dưỡng còn cháu C đang do chị H chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn chị H và anh A đều thống nhất giao cháu K cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu C cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Thấy việc thoả thuận của chị H và anh A là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận là phù hợp. [4] Về tài sản chung vợ chồng: Chị Trần Thị Hồng H và anh Nguyễn Văn A đều thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Thị Hồng H phải nộp theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. 1 - Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Hồng H và anh Nguyễn Văn A. 2- Về con chung: Xử giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 09/7/2015 cho anh Nguyễn Văn A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 05/9/2017 cho chị Trần Thị Hồng H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung. 3- Án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Thị Hồng H phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị chị H đã nộp theo biên lai số 0000900 ngày 15/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏ a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ