- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp HĐ tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 118 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2023/DS-ST Ngày: 07/4/2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Khắc Nhu;
2. Ông Võ Văn Tốt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Yến Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 372/2022/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 139/2023/QĐST-DS ngày 17 tháng 3 năm 2023, giữa:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (viết tắt là Sacombank).
Trụ sở: Lầu 8, 266 - 268 đường N, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đoàn Nguyễn Thanh T (Giấy ủy quyền số 290/GUQ-CNGV ngày 18/11/2021) – có đơn xin vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Duy L, sinh năm 1985 – vắng măt.
Địa chỉ: 5/42A, tổ 7, khu phố 1, phường H, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản hòa giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín, có ông Đoàn Nguyễn Thanh T là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 18/01/2019, ông Nguyễn Duy L có ký với Sacombank Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Sacombank). Căn cứ thu nhập của ông L, Sacombank đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa Platinum Cashback 436438-0728 với hạn mức sử dụng là 77.000.000 (bảy mươi bảy triệu) đồng, với mục đích: Tiêu dùng cá nhân, lãi trong hạn 2,5%. Lãi có thể thay đổi theo lãi suất ngân hàng vào từng thời điểm khác nhau.
Trong quá trình sử dụng thẻ, ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 08/4/2020 Sacombank đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 07/4/2023 ông Nguyễn Duy L còn nợ tổng số tiền là: 207.500.034 (hai trăm lẻ bảy triệu năm trăm nghìn không trăm ba mươi bốn) đồng; Trong đó, số tiền nợ gốc là 90.516.294 (chín mươi triệu năm trăm mười sáu nghìn hai trăm chín mươi bốn) đồng và lãi quá hạn là 116.983.740 (một trăm mười sáu triệu chín trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm bốn mươi) đồng.
Ngân hàng đã yêu cầu ông L có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông L vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng.
Sacombank buộc ông Nguyễn Duy L phải trả số tiền còn nợ và lãi phát sinh từ ngày 08/4/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn ông Nguyễn Duy L nhưng ông L liên tục vắng mặt và Tòa án cũng không nhận được bất kỳ văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu của ông L đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu ý kiến:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: Đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Tóm tắt sao kê do Sacombank cung cấp thể hiện, tính đến ngày 07/4/2023 ông Nguyễn Duy L còn nợ tổng số tiền là: 207.500.034 (hai trăm lẻ bảy triệu năm trăm nghìn không trăm ba mươi bốn) đồng; Trong đó, số tiền nợ gốc là 90.516.294 (chín mươi triệu năm trăm mười sáu nghìn hai trăm chín mươi bốn) đồng và lãi quá hạn là 116.983.740 (một trăm mười sáu triệu chín trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm bốn mươi) đồng. Do đó, việc Sacombank khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tín dụng với ông L là có cơ sở chấp nhận.
- Về án phí: Ông Nguyễn Duy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Sacombank khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Duy L phải trả tiền nợ theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký kết giữa các bên. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hợp đồng vay tài sản.
Bị đơn là ông Nguyễn Duy L cư trú tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về thủ tục tố tụng:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện bị đơn không hợp tác với Tòa án, làm cho vụ án bị kéo dài, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Bị đơn đã tự tước bỏ quyền được trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Căn cứ theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.
3. Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/01/2019, thể hiện ông Nguyễn Duy L có mở Thẻ tín dụng tại Sacombank với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu) đồng, đến ngày 14/9/2019 thì được nâng hạn mức lên là 77.000.000 (bảy mươi bảy triệu) đồng.
Sacombank là pháp nhân được quyền ký kết các hợp đồng tín dụng theo giấy phép đăng ký kinh doanh. Sacombank và ông L giao kết hợp đồng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, hợp đồng được lập thành văn bản và có chữ ký của các bên. Căn cứ theo quy định tại các Điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, hợp đồng nêu trên là hợp pháp, phù hợp về hình thức và nội dung, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên theo nội dung các thỏa thuận.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền gốc và lãi theo thỏa thuận đã ký kết giữa các bên. Nay Sacombank yêu cầu ông phải trả tổng số tiền, tạm tính đến ngày 07/4/2023 ông Nguyễn Duy L còn nợ tổng số tiền là: 207.500.034 (hai trăm lẻ bảy triệu năm trăm nghìn không trăm ba mươi bốn) đồng; Trong đó, số tiền nợ gốc là 90.516.294 (chín mươi triệu năm trăm mười sáu nghìn hai trăm chín mươi bốn) đồng và lãi quá hạn là 116.983.740 (một trăm mười sáu triệu chín trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm bốn mươi) đồng.
Căn cứ theo Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Xét thấy việc thỏa thuận lãi trong hạn 2,5% và lãi quá hạn là 150% lãi trong hạn theo thỏa thuận giữa Sacombank và ông L là tự nguyện, không trái pháp luật.
Việc Sacombank khởi kiện yêu cầu ông L phải thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật đối với số tiền nợ gốc và quá hạn và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 08/4/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
4. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín không phải chịu án phí.
Bị đơn ông Nguyễn Duy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
5. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 1 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Luật phí, lệ phí năm 2015;
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
Buộc ông Nguyễn Duy L phải thanh toán một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền gốc và lãi còn nợ, theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/01/2019 tạm tính đến ngày 07/4/2023 là: 207.500.034 (hai trăm lẻ bảy triệu năm trăm nghìn không trăm ba mươi bốn) đồng; Trong đó, số tiền nợ gốc là 90.516.294 (chín mươi triệu năm trăm mười sáu nghìn hai trăm chín mươi bốn) đồng và lãi quá hạn là 116.983.740 (một trăm mười sáu triệu chín trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm bốn mươi) đồng.
Kể từ ngày 08/4/2023 ông Nguyễn Duy L tiếp tục thanh toán lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/01/2019.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 10.375.002 (mười triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn không trăm trăm lẻ hai) đồng do ông Nguyễn Duy L chịu.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền tạm ứng án phí là: 3.813.450 (ba triệu tám trăm mười ba nghìn bốn trăm năm mươi) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0031093 ngày 25/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: -VKSND Quận 12; -Chi cục THADS Quận 12; -Các đương sự; -Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Minh Hà |