- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự sơ thẩm Lê Quang T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quang T (Tên gọi khác: Lê Văn T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2022/HSST Ngày: 20/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Dặng Viết Côi
+Ông Nguyễn Hạ Tuấn
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hång -Thư ký Tòa án
nhân dân huyện Ứng Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà:
bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2022/HSST ngày theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2022/QĐXXST-HS ngày 9/12/2022 đối với bị cáo:
Lê Quang T (Tên gọi khác: Lê Văn T)- sinh năm 1979, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn GT, xã ĐC, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Thành Nghị và bà Nguyễn Thị Hoà; có vợ: đã ly hôn; có 01 con sinh năm: 2000; Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân: năm 2010, Lê Quang T bị Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 6.000.000 đồng về tội Đánh bạc theo Bản án số 25/2010/HSST ngày 30/11/2010. Chấp hành xong hình phạt ngày 18/3/2013. (đã được xoá án tích)
Bị bắt, bị tạm giữ từ ngày 22/9/2022 đến ngày 26/9/2022 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
-Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Quang D, sinh năm: 1975(Vắng mặt)
HKTT: thôn GT, xã ĐC, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 22/9/2022, Lê Quang T (sinh năm 1979, trú tại thôn GT, xã ĐC, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội) đi đến khu vực chợ Mới, xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau đó, T đi về nhà, sử dụng hết một phần ma túy, phần còn lại T bọc bằng giấy màu trắng để trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và cất vào túi quần bên phải T đang mặc. Đến khoảng 14 giờ 55 phút cùng ngày, T đang đi bộ trên đường tại thôn GT, xã ĐC, thì bị tổ công tác Công an xã Đại Hùng phối hợp với Công an xã ĐC kiểm tra; tại chỗ, T đã giao nộp cho lực lượng Công an 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói giấy màu trắng, kích thước khoảng (02 x 01) cm chứa chất bột màu trắng, T khai nhận là ma túy Heroine, cất giấu để sử dụng. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng, đồng thời lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Quang T.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói giấy màu trắng, kích thước khoảng (02 x 01) cm chứa chất bột màu trắng.
Ngày 22/9/2022, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứng Hòa ra Quyết định trưng cầu giám định đối với mẫu vật chứng thu giữ trên. Tại Kết luận giám định số 6722/KLGĐ-PC09 ngày 29/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,180 gam”.
Bản cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 22/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Lê Quang T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” qui định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt:
Bị cáo Lê Quang T từ 13 tháng đến 18 tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án được trừ số ngày tạm giữ từ ngày 22/9/2022 đến 26/9/2022.
Miễn hình phạt bổ sung vì bị cáo không có nghề nghiệp, gia đình khó khăn.
Về xử lý vật chứng : Áp dụng Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy gửi lại sau giám định;
Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội: Buộc Mỗi bị cáo án phí Hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.
Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Ngày 22/9/2022, Lê Quang T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nhỏ ma túy, mục đích để sử dụng, đã bị lực lượng công an bắt quả tang. Giám định vật chứng thu được xác định là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,180 gam.
Đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự thì hành vi nêu trên của Lê Quang T, đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, mà còn làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của nòi giống, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và dăn đe, phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét thấy các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đều thành khẩn khai báo; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có công việc và thu nhập ổn định, động cơ, mục đích phạm tội đều xuất phát từ việc nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử miễm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với nguồn gốc số ma túy: Lê Quang T khai mua của một đàn ông không quen biết tại khu vực chợ Mới, xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội; việc mua bán ma túy diễn ra không có ai biết. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Về vật chứng: Số ma túy gửi lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy;
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 46; Điều 47 Bộ luật HÌnh sự năm 2015; căn cứ Điều 106; Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án
1.Tuyên bố bị cáo Lê Quang T (Tên gọi khác: Lê Văn T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. xử phạt Lê Quang T 12 (Mười hai) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22 /9/2022 đến ngày 26/9/2022.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư chứa ma túy gửi lại sau giám định; (Vật chứng có tình trạng, đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ứng Hòa, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa ngày 08/12/2022.)
4. Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án. Thành viên hội đồng xét xử
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - CA, VKS, THADS Ứng Hòa; - Bị cáo; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Minh |