vanban.org

Bản án 88/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 26/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lương Thị B phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lương Thị B 08 (tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt này với hình phạt 08 (tám) tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 254/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo Lương Thị B phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 16 (mười … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Thị B - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Thị B phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2022/HS-ST
Ngày: 26/4/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Phương Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Sơn

Bà Trần Thị Kim Dung

- Thƣ ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Lƣơng Thị B, sinh năm 1980; HKTT: M, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; Nơi cư trú: số 2/4/239 B, phường K, quận T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Xuân B1 (đã chết) và bà: Phạm Thị M (sinh năm 1955); Có chồng là Trần Văn B2 (sinh năm 1973) và có 02 con, con lớn 2001, con nhỏ sinh năm 2003; Danh chỉ bản số 94, lập ngày 14/01/2022 tại Công an quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 254/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 16 tháng, thời hạn kể từ ngày tuyên án về tội Đánh bạc (chưa được xóa án tích); Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Trần Thị X, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Kiốt 22B, tòa nhà C, khu đô thị Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội (xin vắng mặt tại phiên tòa).

- Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1973; Nơi cư trú: số 94, ngõ 30 P, phường P, quận T, thành phố Hà Nội (xin vắng mặt tại phiên tòa).

- Anh Vũ Đức T1, sinh năm 1967; Nơi cư trú: số 92B, ngõ 12, Q, tổ 7, phường L, quận H, thành phố Hà Nội (xin vắng mặt tại phiên tòa).

- Anh Đào Xuân H, sinh năm 1984; Nơi cư trú: P1408, chung cư C, tổ 17, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội (xin vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 06/11/2021, tổ công tác Công an phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội phát hiện bắt quả tang Lương Thị B cùng Hoàng Thị T, Đào Xuân H và Vũ Đức T1 đang đánh bạc dưới hình thức chơi tá lả tại nhà của Trần Thị X tại gác lửng Kiốt số 22B, tòa nhà C, khu đô thị Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Tổ công tác Công an phường Định Công đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa các đối tượng liên quan về trụ sở để điều tra làm rõ.

Vật chứng thu giữ tại chỗ gồm:

- Thu giữ tại vị trí ngồi của Lương Thị B: 680.000 đồng.

- Thu giữ tại vị trí ngồi của Hoàng Thị T: 730.000 đồng.

- Thu giữ tại vị trí ngồi của Đào Xuân H: 520.000 đồng.

- Thu giữ tại vị trí ngồi của Vũ Đức T1: 140.000 đồng.

- Thu giữ tại chiếu bạc 02 bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ có 52 lá bài và số tiền 280.000 đồng tiền gà.

Quá trình điều tra, Lương Thị B, Hoàng Thị T, Đào Xuân H, Vũ Đức T1 khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 06/11/2021, Lương Thị B, Hoàng Thị T, Đào Xuân H, Vũ Đức T1 đến nhà Trần Thị X tại Kiốt số 22B C, khu đô thị Đ, phường Đ, quận H, Hà Nội để ăn sinh nhật T. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn uống xong thì B, T, H, T1 rủ nhau đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền qua hình thức chơi tá lả. Hình thức chơi: Người nhất ván trước sẽ được chia bài, sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài để chơi, người chia bài sẽ được chia 10 lá bài, những người còn lại được chia 9 lá bài. Phỏm là bộ từ 3 lá bài trở lên giống nhau, hoặc cùng chất xếp liên tiếp nhau. Khi hết ván bài, ai có “phỏm” và số điểm trên bài nhỏ nhất sẽ về nhất, tiếp sau đó là nhì, ba, bét. Nếu không có “phỏm” gọi là “móm”, nếu bài có “phỏm” và trên bài không còn lá bài để tính điểm sẽ là “ù”. Người về nhất được tiền của 03 người còn lại, về nhì mất 20.000 đồng, về ba mất 40.000đồng, về bét mất 60.000đồng, nếu “móm” sẽ mất 80.000 đồng. Nếu ai “ù” thì 3 người còn lại sẽ mất cho người “ù” số tiền 100.000 đồng. Các đối tượng chơi bài đến 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị cơ quan công an bắt và thu giữ tang vật như đã nêu trên. B, T, H, T1 khai nhận quá trình chơi đánh bạc, nếu ai “ù” thì sẽ bỏ ra 20.000 đồng tiền gà để chơi xong thì trả tiền ăn, thuốc, nước, hoa quả, để đưa cho X. X là người mua 02 bộ bài tú lơ khơ, chuẩn bị hoa quả, thuốc, nước để B, T, H, T1 đánh bài tại nhà X. Trần Thị X khai X đi mua 02 bộ bài và chỉ biết là H, B, T1, T đánh bạc, không biết cụ thể thế nào, không thu hồ, không thu phế.

Quá trình đánh bạc: Lương Thị B lúc đầu bỏ ra 680.000 đồng để đánh bạc; tại thời điểm bị cơ quan công an bắt quả tang, B có 680.000đồng, B đang hòa. Hoàng Thị T lúc đầu bỏ ra 450.000 đồng để đánh bạc; tại thời điểm bị cơ quan công an bắt quả tang, T đang có 730.000 đồng, T đang thắng số tiền 280.000 đồng. Đào Xuân H lúc đầu bỏ ra 500.000 đồng để đánh bạc; tại thời điểm bị cơ quan công an bắt quả tang, H có 520.000 đồng, H đang thắng 20.000 đồng. Vũ Đức T1 lúc đầu T1 bỏ ra 720.000đồng để đánh bạc; tại thời điểm bị cơ quan công an bắt quả tang, T1 có 140.000 đồng, T1 đang thua 580.000đồng.

Tổng số tiền đánh bạc của các đối tượng là 2.350.000 đồng (Hai triệu ba trăn năm mươi nghìn đồng).

Đối với hành vi của các đối tượng Hoàng Thị T, Vũ Đức T1, Đào Xuân H, số tiền đánh bạc của các đối tượng dưới 5.000.000 đồng, nhân thân chưa có tiền án tiền sự nên không cấu thành tội đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Công an quận Hoàng Mai đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Thị T, Vũ Đức T1, Đào Xuân H về hành vi Đánh bạc trái phép theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, mức tiền phạt 1.500.000 đồng.

Hành vi của Trần Thị X, tuy không trực tiếp tham gia đánh bạc, nhưng chuẩn bị 02 bộ bài, thuốc, nước để T, T1, H, B đánh bạc, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, nên không cấu thành tội đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Công an quận Hoàng Mai đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Thị X về hành vi Đánh bạc trái phép theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, mức tiền phạt 1.500.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 73/CT-VKS-HM ngày 23 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Lương Thị B về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa: Bị cáo Lương Thị B khai nhận đã thực hiện hành vi đánh bạc vào ngày 06/11/2021 và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên nội dung truy tố. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Lương Thị B mức hình phạt từ 8 tháng tù đến 12 tháng tù về tội Đánh bạc và chuyển hình phạt 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của bản án số số 254/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai thành tù giam, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.350.000 đồng; Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ có 52 lá bài.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 06/11/2021, tại gác lửng nhà của Trần Thị X ở Kiốt 22B C, khu đô thị Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội, Lương Thị B, Hoàng Thị T, Vũ Đức T1, Đào Xuân H sử dụng bộ bài tú lơ khơ để đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “tá lả”. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị tổ công tác công an phường Định Công bắt quả tang cùng vật chứng. Tổng cộng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 2.350.000 đồng, trong đó Lương Thị B sử dụng 680.000 đồng đánh bạc.

Xét bị cáo Lương Thị B có 01 tiền án đó là ngày 27/8/2020 Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 16 tháng, thời hạn kể từ ngày tuyên án về tội “Đánh bạc” tại bản án hình sự sơ thẩm số 254/2020/HS-ST. Bản án này bị cáo chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo đánh bạc dưới 5.000.000 đồng được xem là dấu hiệu cấu thành tội phạm “Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” để truy cứu trách nhiệm hình sự Lương Thị B theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo Lương Thị B về tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Lương Thị B phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội, làm gia tăng tệ nạn cờ bạc, loại tệ nạn xã hội đang có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng tới hạnh phúc và kinh tế của nhiều gia đình, đồng thời là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, do vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lương Thị B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lương Thị B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc rất ít, bị cáo có hoàn cảnh, điều kiện gia đình khó khăn nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt và chấp hành pháp luật, đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa chung.

Ngoài ra, do bị cáo B thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách của án treo nên căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự thì hình phạt 08 tháng tù treo tại bản án số 254/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai được chuyển sang hình phạt tù giam và được tổng hợp với hình phạt của bản án này để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lương Thị B không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 2.350.000 đồng thu giữ của bị cáo và những người liên quan, là tiền đánh bạc, nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với 02 bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ bài có 52 lá bài, là công cụ đã sử dụng vào việc đánh bạc, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với hành vi của Hoàng Thị T, Vũ Đức T1, Đào Xuân H và Trần Thị X, cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai đã xác minh đối với các đối tượng trên, các đối tượng đều không có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc, nên không đủ căn cứ xử lý về hình sự. Do vậy, Công an quận Hoàng Mai đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Căn cứ các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lương Thị B phạm tội “Đánh bạc”.

2. Xử phạt bị cáo Lương Thị B 08 (tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt này với hình phạt 08 (tám) tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 254/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo Lương Thị B phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ của bản án số 254/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, từ ngày 04/02/2020 đến ngày 07/02/2020).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lương Thị B.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 2.350.000 đồng (Hai triệu, ba trăm, năm mươi nghìn đồng).

(Hiện đang lưu giữ tại Kho bạc nhà nước quận Hoàng Mai theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 07/01/2022).

- Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ bài có 52 lá bài.

(Hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội theo Phiếu nhập kho số NK2022-0142 ngày 28 tháng 3 năm 2022).

4. Về án phí: Bị cáo Lương Thị B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lương Thị B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ