- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Kh - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2022/HS-ST Ngày: 05/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Ngọc Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Chấn và ông Nguyễn Đình Tân;
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hu – Thư ký Tòa án nhân dân huy n Đắk Mil.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 05/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Đắk Mil xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2023/HSST, ngày 17/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2023/QĐXXST-HS, ngày 17/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2023/HSST-QĐ, ngày 27/11/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1990 tại tỉnh Bình Đ; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Tổ dân phố 2, phường Nghĩa T, Thành phố Gi, tỉnh Đắk Nông; nghề nghi p: Lái xe; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970 và bà Đỗ Thị T, sinh năm 1969; tr tại: phường Nghĩa Ph, Thành phố Gi, tỉnh Đắk Nông; có v Hà Thị L, sinh năm 1988 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng bi n pháp Cấm đi khỏi nơi cư tr t ngày 19/10/2023 – Có m t.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm 1960 (đã chết);
Địa chỉ: Tổ 3, thị trấn Đức A, huy n Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
Những người thừa kế theo pháp luật của bà Nguyễn Thị Anh Đ:
Ông Dương Trí H, sinh năm 1946- Vắng m t;
Địa chỉ: Tổ dân phố 3, thị trấn Đức A, huy n Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
Chị Dương Nữ Xuân M, sinh năm 1998 – Vắng m t;
Địa chỉ: Thôn Tà L 3, xã Phước Đ, huy n Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.
Chị Dương Nữ Bảo M, sinh năm 1995 – Vắng m t;
Nơi cư tr : Tổ dân phố 3, thị trấn Đức An, huy n Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
Chỗ ở hi n nay: Số 19/9/7 – Nguyễn Tuân, phường 3, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.
Chị Dương Nữ Bích M, sinh năm 1996 – Vắng m t;
Nơi cư tr : Tổ dân phố 3, thị trấn Đức An, huy n Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
Chỗ ở hi n nay: Số 29 – Lô V – Nguyễn Thị Tần, phường 2, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh.
Chị Dương Nữ Thanh M, sinh năm 1985 – Vắng m t;
Nơi cư tr : Số 11/31 - Đào Duy T , phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Chỗ ở hi n nay: 13.04 – RS6, khu 2, Chung cư thương mại dịch vụ và căn hộ số 239 – 241 – Hòa Bình, phường Hi p Tân, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện của bị hại bà Nguyễn Thị Ánh Đ và đại diện theo ủy quyền của ông Dương Trí H, chị Dương Nữ Xuân M, chị Dương Nũ Bảo M và chị Dương Nữ Bích M: Chị Dương Nữ Thanh M, sinh năm 1985 (theo h p đồng ủy quyền ngày 29/9/2023) – Vắng m t;
Nơi cư tr : Số 11/31 - Đào Duy T , phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Chỗ ở hi n nay: 13.04 – RS6, khu 2, Chung cư thương mại dịch vụ và căn hộ số 239 – 241 – Hòa Bình, phường Hi p Tân, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quy n l i, ngh a vụ liên quan:
- Chị Dương Nữ Thanh M, sinh năm 1985 – Vắng m t;
Địa chỉ: 11/31 Đào Duy T , phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Anh Bùi Khánh Tr, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Tổ 3, phường Nghĩa Ph , thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Chị Nguyễn Thị Di u M, sinh năm 1981 – Vắng m t;
Địa chỉ: Tổ dân phố 4, phường Nghĩa Th, thành phố Gi, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau: Nguyễn Văn Kh có giấy phép lái xe hạng C theo quy định. Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 21/9/2023, Nguyễn Văn Kh điều khiển xe ô tô biển số 48C - 025.57 (xe của anh Bùi Khnh Tr, thuê Kh điều khiển) đi trên đường liên thôn t thôn Thuận Sơn, xã Thuận An, huy n Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông về Thành phố Gi, tỉnh Đắk Nông. Khi đến khu vực Km số 1841 + 750m Quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh đoạn giao nhau với đường liên thôn thì Nguyễn Văn Kh điều khiển xe ô tô chuyển hướng sang trái để rẽ vào đường Hồ Chí Minh, do không quan sát nên khi xe ô tô biển số 48C - 025.57 cách vạch sơn kẻ đường giữa đường Hồ Chí Minh khoảng 01m thì Nguyễn Văn Kh phát hi n xe mô tô biển số 48F1 – 175.31 do bà Nguyễn Thị Anh Đ điều khiển đi trên đường Hồ Chí Minh theo hướng t huy n Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đi huy n Cư J t, tỉnh Đắk Nông. Do khoảng cách quá gần, không kịp xử lý, Nguyễn Văn Kh đã để xe ô tô biển số 48C - 025.57 tông vào xe mô tô biển số 48F1 – 175.31 làm bà Nguyễn Thị Anh Đ ngã ra đường. Hậu quả, bà Nguyễn Thị Anh Đ chết khi đang cấp cứu tại b nh vi n, xe mô tô biển số 48F1 – 175.31 bị hư hỏng. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết quả Khm nghiệm hiện trường:
Hi n trường nơi xảy ra tai nạn là Km 1841 + 750m Quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh thuộc thôn Đức Hòa, xã Thuận An, huy n Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. Đây là khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Hồ Chí Minh với đường nhựa liên thôn. Tại đây, có các vạch sơn nét đứt màu vàng, trắng chỉ dẫn cho các pM ti n đi lại. Theo chiều đường t huy n Đắk Song đi huy n Cư J t thì đây là đoạn đường thẳng, đư c trải nhựa bê tông rộng 11m, chính giữa đường có vạch sơn đứt quãng màu vàng phân chia m t đường thành hai chiều đường riêng bi t, ở chiều đường bên trái (hướng huy n Đắk Song đi huy n Cư J t) có vạch sơn liền màu trắng cách mép đường cùng chiều 1,9m phân chia làn đường dành cho xe cơ giới và xe thô sơ, ở chiều đường bên phải (hướng huy n Đắk Song đi huy n Cư J t) có vạch sơn nét đứt màu trắng cách ngã ba 1,9m, nơi giao nhau có m t đường rộng 36,4m, đường liên thôn không có vạch kẻ đường, hai bên đường là khu dân cư sinh sống.
Lấy chiều hướng t huy n Đắk Song đi huy n Cư J t làm chiều hướng Khm nghi m, lấy mép đường trái làm chuẩn, lấy trụ đi n T200-T38 B1 nằm trong lề đường phải làm điểm mốc để tiến hành Khm nghi m, đo đạc.
Hiện trường ghi nhận các dấu vết sau:
- Xe ô tô biển số 48C - 025.57 đang đỗ trên m t đường Hồ Chí Minh, đầu xe đang ở phần đường bên phải, hướng về phần đường bên trái, đuôi xe hướng về đoạn đường liên thôn (xe đã đư c di chuyển lùi lại so với vị trí xảy ra tai nạn để cho các pM ti n trên đường lưu thông và đưa người bị nạn đi cấp cứu, sau đó đư c giữ nguyên cho đến khi công an làm vi c).
- Dấu vết chà lốp trên phần đường phải có kích thước 1,06m x 0,18m, điểm đầu cách mép đường chuẩn 06m, cách điểm mốc 14,5m; điểm cuối vết phanh xe cách mép đường chuẩn 07m, cách điểm mốc 13,5m. Dấu vết chà lốp do lốp trước bên trái xe ô tô biển số 48C - 025.57 tạo nên, đư c ký hi u KT1 trên sơ đồ hi n trường.
- Trên m t đường phát hi n dấu vết cày trư t không liên tục có kích thước 3,4m x 0,6m, điểm đầu vết cày trư t cách mép đường chuẩn 05m, cách điểm mốc 16,5m; điểm cuối vết chà trư t cách mép đường chuẩn 3,7m, cách điểm mốc 19m. Dấu vết cày trư t do gác chân giữa bên trái, tay nắm trước bên trái xe mô tô biển số 48F1-175.31 cày trư t trên m t đường tạo nên, đư c ký hi u KT2 trên sơ đồ hi n trường.
- Xe mô tô biển số 48F1 – 175.31 đỗ trên lề đường trái đầu xe hướng về huy n Đắk Song, đuôi xe hướng về huy n Cư J t (xe đã đư c di chuyển t vị trí trên phần đường phải ra lề đường để đưa người bị nạn đi cấp cứu và cho các pM ti n Khc lưu thông, sau đó giữ nguyên cho đến khi Công an làm vi c).
- Căn cứ các dấu vết để lại trên hi n trường và các dấu vết để lại trên pM ti n xác định tại vị trí cách lề đường chuẩn 5,72m, cách điểm cuối KT1 là 1,78m, cách điểm mốc 15m đư c xác định là điểm va chạm đầu tiên giữa ô tô biển số 48C-025.57 (phần cản trước giữa đầu xe ô tô) và xe mô tô biển số 48F1-175.31 (phần yếm chắn gió bên phải xe mô tô), dấu vết này đư c đánh dấu X trên sơ đồ hi n trường.
Kết quả Khm nghiệm pM tiện:
- Xe ô tô biển số 48C-025.57, nhãn hi u Isuzu, số máy 4HK1268569, số khung RLERR90NE7000649: Cản trước ở giữa và bên phải phía trước bị mài mòn, bám dính tạp chất màu xám đỏ, kích thước 38cm x 11cm; Lốp trước bên trái bị mài mòn, mất bẩn đất, lộ lớp cao su màu đen, kích thước 30cm x 18cm.
- Xe mô tô biển số 48F1-175.31, loại Wave RSX, số máy JA52E0066267, số khung RLHJA3844KY029791, màu sơn xám đen: 01 vết chà trư t, bám dính tạp chất màu xanh, trắng tại vỏ ngoài yếm chắn gió, bên phải kích thước 32cm x 11cm, cao cách m t đất 60cm; 01 vết chà trư t tróc xước tay cầm bên trái, bể vỡ gương chiếu hậu bên trái, kích thước 18cm x 12cm; 01 vết chà trư t, tróc xước tại vỏ ngoài m t nạ phía trước bên trái xe, kích thước 21cm x 06cm; 01 vết chà trư t tại gác để chân trước bên trái, kích thước 12cm x 04cm, cong vênh xô l ch khỏi vị trí ban đầu theo chiều hướng t trước ra sau 04cm.
Tại Kết luận giám định tử thi số 102/KL-KTHS, ngày 16/10/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đắk Nông kết luận: Bà Nguyễn Thị Anh Đ bị bầm tụ máu da cơ vùng đỉnh chẩm thái dương trái, nứt hộp sọ vùng thái dương đỉnh trái; tụ máu dưới màng cứng, tổ chức bán cầu não hai bên phù nề mất các rãnh não, tụ máu trong tổ chức bán cầu não hai bên. Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị Anh Đ là chấn tM sọ não.
Tại Kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐ ĐGTS, ngày 29/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huy n Đắk Mil kết luận: Xe mô tô biển số 48F1 - 175.31 bị thi t hại là 804.000 đồng.
Bản cáo trạng số 87/CT – VKS(ĐM), ngày 15/11/2023 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Đắk Mil đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huy n Đắk Mil để xét xử bị cáo Nguyễn Văn Kh về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng và th a nhận Vi n kiểm sát nhân dân huy n Đắk Mil truy tố bị cáo là có căn cứ, đ ng người, đ ng tội, đ ng pháp luật và không oan sai.
Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Đắk Mil sau khi đã phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng n ng trách nhi m hình sự, nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh t 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách t 03 năm đến 04 năm tính t ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Nghĩa T, thành phố Gi, tỉnh Đắk Nông và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về trách nhi m dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586, 587, 589 và 591 của Bộ luật dân sự. Chấp nhận bị cáo đã bồi thường cho người đại di n bị hại của bà Nguyễn Thị Anh Đ tổng cộng số tiền 300.000.000 đồng và người đại di n bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Người có quyền l i và nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Bùi Khnh Tr không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thi t hại đối với xe ô tô biển số 48C - 025.57 nên không xem xét giải quyết.
- Về vật chứng của vụ án:
Vật chứng đã thu giữ: xe ô tô tải nhãn hi u Isuzu, biển số 48C - 025.57; xe mô tô nhãn hi u Honda loại Wave RSX, biển số 48F1 - 175.31; 01 giấy phép lái xe hạng C số 670112002285 mang tên Nguyễn Văn Kh.
Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Đắk Mil đã thu giữ, sau đó trả lại xe ô tô tải nhãn hi u Isuzu, biển số 48C - 025.57 và xe mô tô nhãn hi u Honda loại Wave RSX, biển số 48F1 - 175.31 cho các chủ sở hữu h p pháp.
Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng C số 670112002285 mang tên Nguyễn Văn Kh cho bị cáo.
Tại phiên toà, bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi đư c nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài li u trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huy n Đắk Mil, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân huy n Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều h p pháp.
. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù h p với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù h p với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và tài li u chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đư c thẩm vấn công khai, Hội đồng xét xử xét thấy:
Vào khoảng 15 giờ 50 phút ngày 21/9/2023, tại Km số 1841+750m Quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh thuộc thôn Đức Hoà, xã Thuận An, huy n Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Văn Kh điều khiển xe ô tô biển số 48C - 025.57 không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ nên đã để cho xe ô tô biển số 48C-025.57 tông vào xe mô tô biển số 48F1 – 175.31 do bà Nguyễn Thị Anh Đ điều khiển. Hậu quả làm bà Đ chết do chấn thương sọ não, xe mô tô biển số 48F1-175.31 bị thi t hại là 804.000 đồng.
Xét quan điểm đề nghị của Đại di n Vi n kiểm sát tại phiên tòa về phần trách nhi m hình sự đối với bị cáo là có cơ sở, đ ng người đ ng tội, đ ng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Đi u
của Bộ luật h nh sự quy định:
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người Khc thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
….
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm Tr, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thi t hại đến tài sản, sức khỏe và tính mạng của người Khc, gây tâm lý hoang mang trong quần ch ng nhân dân khi tham gia thông đường bộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa pM. Bị cáo th a biết rằng khi điều khiển pM ti n tham gia giao thông không chấp hành đ ng quy định pháp luật về giao thông đường bộ là nguy hiểm cho những người và pM ti n Khc tham gia giao thông, nhưng do điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 48C - 025.57 không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên dẫn đến gây tai nạn, hậu quả bà Nguyễn Thị Anh Đ chết do chấn tM sọ não. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhi m về hành vi do chính mình đã gây ra.
. Tình tiết tăng n ng và nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng n ng quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự; chưa có tiền án, tiền sự và có nhân thân tốt.
. Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường cho đại di n bị hại tổng số tiền 300.000.000 đồng và đư c người đại di n của bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đư c quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù h p.
T những phân tích và nhận định trên Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng n ng trách nhi m hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, có nơi cư tr rõ ràng. Theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự, hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 và Điều 1 của Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo đủ điều ki n đư c hưởng án treo. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và gia đình trực tiếp giám sát, giáo dục là đủ, tạo điều ki n cho bị cáo trở thành công dân tốt thể hi n chính sách khoan hồng của pháp luật của Nhà nước ta.
. Về trách nhi m dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho người đại di n của bà Nguyễn Thị Anh Đ số tiền 50.000.000 đồng, trước khi mở phiên tòa đã thỏa thuận bồi thường thêm 250.000.000 đồng. Xét thấy, vi c thỏa thuận bồi thường là hoàn toàn tự nguy n, đ ng quy định của pháp luật nên chấp nhận, người đại di n của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự. Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Đắk Mil đã thu giữ, sau đó trả lại xe ô tô tải nhãn hi u Isuzu, biển số 48C - 025.57 cho anh Bùi Khnh Tr và xe mô tô nhãn hi u Honda loại Wave RSX, biển số 48F1 - 175.31 cho chị Dương Nữ Bích M (con của bà Đ) là các chủ sở hữu h p pháp.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C số 670112002285 mang tên Nguyễn Văn Kh do không cấm bị cáo hành nghề nên cần trả lại cho bị cáo là phù h p.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Kh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Kh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Kh 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm tháng tính t ngày tuyên án sơ thẩm ngày 05/12/2023.
Giao Nguyễn Văn Kh cho Ủy ban nhân dân phường Nghĩa T, thành phố Gi, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhi m phối h p cùng chính quyền địa phương trong vi c giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường h p bị cáo thay đổi nơi cư tr thì thực hi n theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người đư c hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường h p thực hi n hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng h p hình phạt của bản án trước theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Về trách nhi m dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586 và 591 của Bộ luật dân sự, chấp nhận bị cáo đã bồi thường cho người đại di n của bà Nguyễn Thị Anh Đ tổng số tiền 300.000.000 đồng, người đại di n của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự. Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Đắk Mil đã thu giữ, sau đó trả lại xe ô tô tải nhãn hi u Isuzu, biển số 48C - 025.57 cho anh Bùi Khnh Tr và xe mô tô nhãn hi u Honda loại Wave RSX, biển số 48F1 - 175.31 cho chị Dương Nữ Bích M (con của bà Đ) là các chủ sở hữu h p pháp.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Kh 01 giấy phép lái xe hạng C số 670112002285 mang tên Nguyễn Văn Kh (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/12/2023 tại Tòa án nhân dân huy n Đắk Mil).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, l phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Kh phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền Khng cáo: Bị cáo có quyền Khng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Người đại di n của bị hại và của những người th a kế theo pháp luật vắng m t tại phiên tòa có quyền Khng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày bản án đư c tống đạt h p l . Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan vắng m t tại phiên tòa có quyền Khng cáo nội dung liên quan đến quyền l i, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày bản án đư c tống đạt h p l .
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huy n Đắk Mil; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Công an huy n Đắk Mil;; - Chi cục THADS huy n Đắk Mil; - Bị cáo; người đại di n bị hại; bị hại; - Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: VT và HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đ ký và đóng dấu) Trương Ngọc Thanh |