- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức N - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức N. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 38/2022/HS-ST ngày 09/6/2022 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2022/HS-PT Ngày 09-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Bà Trần Thị Bé.
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Mỹ Giang.
Ông Nguyễn Văn Năm.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phong – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thành – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 98/2022/TLPT-HS ngày 18 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Đức N do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức N đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2022/HS-ST ngày 09/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức N, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1963, tại Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức N (đã chết) và bà Bùi Thị S; có vợ Nguyễn Thị T và 02 con, lớn sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức N, sinh năm 1963, ở tại thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Vào năm 2018, Nguyễn Đức N mua xe ô tô tải biển kiểm soát 76C – 0xx.76 để chở thuê cho Công ty TNHH T, có trụ sở tại xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Hàng ngày, Nguyễn Đức N điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 76C – 0xx.76 đến Công ty B để chở dăm gỗ xuống cảng H.
Anh Lê Quốc T, sinh năm 1985, ở tại thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi làm nghề thợ hồ, ngày 09/9/2021 anh Lê Quốc T đến nhà ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1970, ở tại thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi để phụ xây nhà cho ông Nguyễn Văn Th. Anh Lê Quốc T và ông Nguyễn Văn Th làm đến khoảng 16 giờ 00 phút thì nghỉ, sau đó cùng nhau uống rượu đến khoảng 20 giờ 00 phút thì anh Lê Quốc T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12D1 – 2xx.x2 ra về.
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 09/9/2021, Nguyễn Đức N điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 76C-0xx.76 di chuyển từ Cảng H, tại thôn T, xã B, huyện B đến Nhà máy dăm gỗ B, trụ sở tại thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi để chở dăm gỗ. Khi đến đoạn đường liên xã B, đoạn thuộc thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi thì chuyển hướng từ Đông sang Tây để vào nhà máy dăm. Tuy nhiên, do kích thước chiều dài của xe dài (12m) nên Nguyễn Đức N cho xe lùi lại phía sau khoảng 1.5m để quay đầu xe vào nhà máy dăm. Lúc này, anh Lê Quốc T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12D1-2xx.x2 lưu thông trên tuyến đường liên xã B theo hướng Nam – Bắc vừa đến nên tông vào phần đuôi xe bên trái của xe ô tô tải biển kiểm soát 76C-0xx.76. Hậu quả, anh Lê Quốc T chết tại chỗ.
Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2022/HS-ST ngày 09/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 21/6/2022, bị cáo Nguyễn Đức N kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Đức N vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Đức N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ Luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; người bị hại cũng có một phần lỗi trong vụ án (không có giấy phép lái xe mô tô, điều khiển xe mô tô chạy với tốc độ cao trong tình trạng sử dụng nồng độ cồn vượt mức cho phép 165mg/100ml máu). Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức N, sửa bản án sơ thẩm áp dụng Điều 65 Bộ Luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức N: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Đức N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận vào ngày 09/9/2021, Nguyễn Đức N điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 76C – 0xx.76 di chuyển từ Cảng H đến nhà máy dăm gỗ B để chở dăm gỗ. Khi đến đoạn đường liên xã B thì chuyển hướng từ Đông sang Tây để vào nhà máy dăm nhưng do xe ô tô biển kiểm soát 76C – 0xx.76 dài 12m nên bị cáo phải cho xe ô tô lùi lại về phía sau khoảng 1,5m để quay đầu xe vào nhà máy dăm nhưng không quan sát phía sau có xe lưu thông đi tới không; lúc này, anh Lê Quốc T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12D1-2xx.x2 lưu thông trên tuyến đường liên xã B theo hướng Nam – Bắc vừa đến nên tông vào phần đuôi xe bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 12D1-2xx.x2. Hậu quả làm anh Lê Quốc T bị đa chấn thương, chấn thương sọ não, vỡ sụp xương hộp sọ, xuất huyết não dẫn đến chết. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức N đã vi phạm quy định tại Điều 16 Luật Giao thông đường bộ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Nguyễn Đức N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ Luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức N, thì thấy: Bị cáo Nguyễn Đức N đã được Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Ngãi cấp giấy phép lái xe ô tô hạng C nhưng bị cáo không chấp hành quy định của Luật giao thông đường bộ, điều khiển xe ô tô lùi không đúng quy định nên đã gây tai nạn, hậu quả gây thiệt hại đến tính mạng của anh Lê Quốc T. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại; gia đình người bị hại đã có đơn bãi nại và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi là điều khiển xe mô tô nhưng không có giấy phép lái xe và điều khiển xe mô tô với tốc độ cao trong tình trạng sử dụng nồng độ cồn vượt mức cho phép 165mg/100ml máu nên khi phát hiện xe ô tô phía trước, bị hại không làm chủ được tốc độ đã tông vào bên trái đuôi xe ô tô do bị cáo điều khiển; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy trong vụ án này nguyên nhân xảy ra tai nạn cũng do người bị hại có một phần lỗi và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự; có khả năng tự cải tạo ở địa phương nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức N, áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức N. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 38/2022/HS-ST ngày 09/6/2022 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức N 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 09 tháng 9 năm 2022).
Giao bị cáo Nguyễn Đức N cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Bị cáo Nguyễn Đức N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND, TAND huyện B; - Công an huyện B; - Chi cục THA dân sự huyện B; - Bị cáo; - UBND xã B, huyện B; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Bé |