- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Trung K bị xét xử về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đi…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Bùi Nguyễn T và chị Trần Thị Thu H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 76A/2022/HS-ST ngày 08/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Căn cứ chính? Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2022/HS-PT Ngày 31/8/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hương Nhu
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh và bà Phạm Thị Đào.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hương Sen - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 31/8/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2022/TLPT-HS ngày 27/7/2022 đối với bị cáo Hồ Trung K, do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Bùi Nguyên Thành và chị Trần Thị Thu Hà đối với bản án hình sự sơ thẩm số 76A/2022/HS-ST ngày 08/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
1. Bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Hồ Trung K, sinh năm 1974; ĐKHKTT: Thôn V, phường V1, thành phố B, tỉnh B; Chỗ ở hiện nay: Số 19/27 L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Hồ Nhật T và bà Nguyễn Thị B; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1976; có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; (Bị cáo đã đi chấp hành án theo Quyết định thi hành án số 87/2022/QĐ-CA ngày 02/8/2022 của Chánh án TAND quận N, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên tòa).
2. Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo:
- Anh Bùi Nguyên T, sinh năm 1973 và chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1982; đều có địa chỉ: Số 65B/111 Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng (anh T có mặt, chị Hà có đơn xin vắng mặt).
3. Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:
- Bị hại: Anh Vũ Đ, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 12/2/63 N, Lạch Tray, quận N, thành phố Hải Phòng (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Công ty TNHH Đầu tư thương mại và dịch vụ T; địa chỉ: Phòng 205 tòa nhà Thắng Lợi, số 3 LTT, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Trung T -Chức vụ: Giám đốc (vắng mặt).
+ Anh T1, sinh năm 1981; địa chỉ: Xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình (có đơn xin vắng mặt).
+ Chị Đào Thị N, sinh năm 1995; ĐKHKTT: Xã N, huyện N1, tỉnh Hải Dương; hiện cư trú: Số 167 Q, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng (vắng mặt).
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Trung K có giấy phép lái xe hạng B2 số 270074859240 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 07/10/2016 có giá trị đến ngày 07/10/2026. Tối ngày 29/3/2021, anh Vũ Đ thuê anh Bùi Nguyên T chở 05 mâm lễ hỏi lên thành phố Hà Nội với tiền cước vận chuyển là 1,4 triệu đồng. Do có việc cá nhân nên anh T nhờ Hồ Trung K chở hộ, K đồng ý, lấy xe ô tô biển số 15C – 371.09 của anh T đến địa chỉ 167 Q, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng gặp Vũ Đ xếp hàng lên xe rồi điều khiển xe ô tô biển số 15C - 371.09 chở Vũ Đ ngồi ghế phụ bên phải đi giao hàng. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi Hồ Trung K đang điều khiển xe ô tô ở làn đường thứ hai (làn đường dành cho xe ô tô tải) trên đường quốc lộ 5 theo hướng thành phố Hải Phòng đi Hà Nội đến KM 47 + 777 thuộc địa phận phường Việt Hòa, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, quan sát qua gương chiếu hậu bên trái thấy có ánh đèn ô tô đi phía sau cùng chiều bật đèn xi nhan xin vượt. Hồ Trung K đánh lái sang phải để nhường đường nên đã để phần đầu xe phía trước bên phải xe ô tô do K điều khiển va chạm vào phía sau bên trái rơ mooc biển số 15R - 093.30 được kéo theo bởi xe ô tô tải đầu kéo biển số 15C - 172.86 do anh T1 điều khiển đang dừng xe phía trước cùng chiều dẫn đến xe ô tô biển số 15C - 371.09 và rơ mooc biển số 15R - 093.30 bị hư hỏng và anh Vũ Đ chấn thương dập nát đùi cẳng chân phải, chấn thương sọ não gây vỡ thành trước hốc mắt và xoang trán phải.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 175/TgT ngày 08/7/2021 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương về thương tích của anh Vũ Đ thể hiện, dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương gây dập nát đùi cẳng chân phải, đã phẫu thuật cắt cụt 1/3 giữa đùi phải, mỏm cụt tốt; Chấn thương sọ não gây vỡ thành trước hốc mắt và xoang trán phải. Hiện ổn định. Vết thương phần mềm mặt dưới và bên đốt 1 ngón II tay phải kích thước nhỏ. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 68%.
Tại Kết luận định giá tài sản số 53 ngày 29/7/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Hải Dương kết luận: Giá trị và nhân công thay thế, sửa chữa một số bộ phận, phụ tùng của 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia, số loại Frontier màu sơn xanh là 215.763.500 đồng; Giá trị và nhân công thay thế, sửa chữa một số bộ phận, phụ tùng của 01 chiếc rơ mooc, nhãn hiệu Cimc, màu sơn xanh tại thời điểm ngày 29/3/2021 là 3.443.000 đồng. Tổng là 219.206.500 đồng.
Khám nghiệm xe ô tô biển số 15C - 172.86 kéo theo rơ móoc biển số 15R - 093.30: Tại mặt ngoài thanh bảo hiểm gầm rơ móoc phía sau bên trái có vết va chạm cong gập kim loại theo chiều từ sau về trước; đầu thanh bảo hiểm tỳ sát mặt lăn của dàn lốp bánh sau cùng bên trái; điểm lõm sâu nhất so với vị trí ban đầu 51 cm; điểm thấp nhất cách mặt đất 45 cm; điểm cao nhất cách mặt đất 56 cm, tại mặt vết còn dính tạp chất màu nâu đỏ dạng máu người.Tại mặt ngoài chắn bùn bánh sau bên trái có vết va chạm cong bẹp kim loại theo chiều từ sau về trước điểm tập trung trong diện 50 x 33 cm; điểm thấp nhất cách mặt đất 63 cm; điểm cao nhất cách mặt đất 94 cm.Tại mặt ngoài sàn rơ móoc phía sau bên trái có vết va chạm xước sơn màu xanh tại mặt vết còn dính lại nhiều mảnh kính vỡ. Vết có chiều từ sau về trước điểm tập trung trong diện 70 x 19 cm; điểm thấp nhất cách mặt đất 125 cm; điểm cao nhất cách mặt đất 145 cm.Tại mặt ngoài thành thùng Container phía sau bên trái có vết va chạm bẹp nhẹ kim loại theo chiều từ sau về trước, tại mặt vết còn dính lại bột tạp chất màu xanh dạng sơn điểm tập trung trong diện 64 x 16 cm; điểm thấp nhất cách mặt đất 146 cm; điểm cao nhất cách mặt đất 210 cm.Tại mặt ngoài má lốp bánh sau cùng bên trái rơ móoc có vết va chạm rách cao su diện 40 x 11 cm; điểm gần nhất sát mép lazăng. Tương ứng vị trí này mép lazăng có vết va chạm cong kim loại điểm tập trung trong diện 22 x 3 cm; điểm gần nhất cách xuôi chiều kim đồng hồ 43 cm là chân van xe.
Khám nghiệm xe ô tô BKS 15C - 371.09: Chắn đà phía trước đầu xe tuột khỏi vị trí ban đầu ga lăng phía trước đầu xe; cụm đèn pha, đèn xin đường phía trước hai bên vỡ hỏng hoàn toàn. Toàn bộ ca bin bên phải bị đẩy cong gập theo chiều từ trước về sau, từ trái qua phải bẹp méo biến dạng hoàn toàn. Cánh cửa cabin bên phải bẹp méo biến dạng hoàn toàn theo chiều từ trái qua phải. Càng A, thước lái, mõ nhíp bánh trước bên phải gãy, bánh trước bên phải bị đẩy xô theo chiều từ trước về sau, từ trái qua phải kẹt cứng không chuyển động được. Kính chắn gió, gương chiếu hậu bên phải, hệ thống bảng đồng hồ táp lô, nóc xe vỡ hỏng hoàn toàn. Tại khu vực ghế cabin bên phải, bánh xe phía trước bên phải còn dính lại nhiều tạp chất màu đỏ dạng máu người.
Về vật chứng: Ngày 09/4/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương đã trả lại 01 xe ô tô biển số 15C - 172.86 kéo theo rơ mooc 15R - 193.30 cho anh Phạm Trung Tuân, 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA biển số 15C -371.09 cho anh Bùi Nguyên T.
Về trách nhiệm dân sự: Phần hư hỏng thiệt hại tài sản xe ô tô biển số 15C - 172.86, rơ mooc 15R - 193.30 và xe ô tô biển số 15C - 371.09 anh Phạm Trung Tuân, anh Bùi Nguyên T tự khắc phục sửa chữa không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Hồ Trung K đã hỗ trợ anh Vũ Đ 15.000.000đ, anh Vũ Đ yêu cầu phải bồi thường 500.000.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Vũ Đ đề nghị HĐXX xem xét giải quyết vấn đề dân sự theo quy định của pháp luật. Buộc người có trách nhiệm phải bồi thường cho anh số tiền trên theo quy định.
Anh Bùi Nguyên T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết về phần trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Đối với chiếc xe sau tai nạn thiệt hại 215.763.500đ theo kết luận định giá tài sản anh hoàn toàn nhất trí. Anh đã nhận lại chiếc xe trên, tự sửa chữa không yêu cầu K phải bồi thường.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 76A/2022/HS-ST ngày 08/6/2022, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đã căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, 585, 586, 590, Điều 357, Điều 468, Điều 601 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Trung K phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Trung K 15 (Mười lăm) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
3. Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 1 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù. Tiếp tục quản lý giấy phép lái xe số 270074859240 hạng B2 có giá trị đến ngày 07/10/2026 mang tên Hồ Trung K cấp ngày 07/10/2016 trong hồ sơ vụ án cho đến khi hết thời hạn cấm hành nghề lái xe.
4. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Vũ Đ về yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.
- Buộc anh Bùi Nguyên T, chị Trần Thị Thu Hà phải bồi thường cho anh Vũ Đ số tiền chi phí cho việc cứu chữa là 37.258.899 đồng; tiền thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút của anh Đ là 30.000.000đồng; Tiền chi phí đi lại, chi phí thuê nhà, khám chỉnh sửa chân giả là 10.000.000đ, tiền mua thuốc ngoài theo chỉ định của bác sỹ là 10.371.924đ, tiền lắp chân giả 142.000.000đ; Tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc anh Đ là 4.500.000 đồng; Tiền thuê bác sỹ đến nhà thay băng nặn dịch hàng ngày và tiền thuốc tại nhà là 4.500.000đ. Tiền tổn thất tinh thần là 29.800.000đ. Tổng bằng 268.431.000đ (Hai trăm sáu mươi tám triệu, bốn trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
Kể từ ngày anh Vũ Đ có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền trên, nếu anh T, chị Hà chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Trung K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Anh Vũ Đ được miễn án phí dân sự đối với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Anh Bùi Nguyên T, chị Trần Thị Thu H phải chịu 13.421.500đ (Mười ba triệu, bốn trăm hai mươi mốt nghìn, năm trăm đồng) án phí sơ thẩm dân sự.
Ngoài ra bản án còn quyết định về quyền kháng cáo.
Ngày 22/6/2022, người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Bùi Nguyên T và chị Trần Thị Thu H kháng cáo một phần bản án hình sự sơ thẩm, cụ thể: Yêu cầu bị cáo Hồ Trung K phải bồi thường thiệt hại cho anh T, chị H đối với xe ô tô bị hư hỏng, chi phí sửa chữa và đền bù xe ô tô trong thời gian bị hư hỏng không kinh doanh được phải trả lãi ngân hàng; buộc bị cáo K phải có trách nhiệm bồi thường phần thiệt hại dân sự của anh Đ cùng anh T, chị H; giảm mức bồi thường của anh T và chị H cho anh Đ; buộc bị cáo K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 13.421.500đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Người kháng cáo là anh T rút kháng cáo đối với nội dung đề nghị giảm mức bồi thường thiệt hại cho anh Đ, chị H vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Anh Đ không đồng ý với kháng cáo của anh T và chị H đối với việc giảm mức bồi thường thiệt hại cho anh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Bùi Nguyên T và chị Trần Thị Thu H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 76A/2022/HS-ST ngày 08/6/2022 của TAND thành phố Hải Dương
XÉT THẤY:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) nhận định như sau:
Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là anh Bùi Nguyên T và chị Trần Thị Thu H kháng cáo trong thời hạn luật định nên kháng cáo hợp lệ. Chị H là người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị cáo Hồ Trung K hiện đang đi chấp hành bản án tại trại giam; T1 có đơn xin xét xử vắng mặt; công ty TNHH Đầu tư thương mại và dịch vụ TT&T và chị Đào Thị Ngọc vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người trên.
Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường và biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/3/2021, tại Km 47+777 đường quốc lộ 5 thuộc địa phận phường Việt Hòa, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, Hồ Trung K điều khiển xe ô tô biển số 15C -371.09 hướng Hải Phòng đi Hà Nội, anh Vũ Đ ngồi ở ghế phụ của xe. Do K không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn giữa các xe, chuyển làn xe không đảm bảo an toàn đã để phần đầu xe phía trước bên phải xe ô tô do K điều khiển va chạm vào phía sau bên trái rơ mooc biển số 15R - 093.30 được kéo theo bởi xe ô tô đầu kéo biển số 15C - 172.86 do anh T1 điều khiển đang dừng đỗ xe phía trước cùng chiều. Hậu quả làm anh Vũ Đ bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 68%; xe ô tô biển số 15C - 371.09 hư hỏng thiệt hại 215.763.500đ và rơ mooc biển số 15R - 093.30 bị hư hỏng thiệt hại 3.443.000đồng. Hành vi của bị cáo K đã vi phạm khoản 2 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả anh Đ bị tổn hại sức khỏe 68%. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo K về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Không có ai kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo.
Xét kháng cáo của anh Bùi Nguyên T và chị Trần Thị Thu H: tại phiên tòa, anh T rút kháng cáo đối với nội dung đề nghị giảm mức bồi thường của vợ chồng anh chị cho anh Đ nhưng chị H không rút kháng cáo nên HĐXX vẫn xem xét nội dung kháng cáo này.
Đối với kháng cáo yêu cầu bị cáo K phải đền bù cho anh T, chị H chi phí sửa chữa do xe ô tô hư hỏng và đền bù khoảng thời gian xe ô tô hư hỏng nên anh chị không kinh doanh được; buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự cho anh Đ, HĐXX thấy: Quá trình điều tra vụ án, cả anh T và chị H đều khẳng định xe ô tô biển số 15C-371.09 là tài sản chung của vợ chồng anh chị, phần hư hỏng, thiệt hại của xe ô tô sau khi xảy ra tai nạn, anh chị tự khắc phục sửa chữa, không yêu cầu gì đối với các bên liên quan và đề nghị giải quyết về trách nhiệm dân sự đối với anh Đ theo quy định của pháp luật (thể hiện ở các bút lục 165, 166, 247, 329). Tại phiên tòa sơ thẩm, anh T cũng xác định đã nhận lại xe, hư hỏng đã tự khắc phục và không yêu cầu các bên liên quan phải bồi thường. Vì anh T và chị H không yêu cầu bị cáo Hồ Trung K phải bồi thường thiệt hại hư hỏng xe cũng như thiệt hại do xe bị hư hỏng không kinh doanh được, không yêu cầu bị cáo K phải bồi thường thiệt hại cho anh Đ cùng anh T và chị H nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là đúng quy định của pháp luật. Do đó, căn cứ vào phạm vi xét xử phúc thẩm, HĐXX phúc thẩm không xem xét những nội dung kháng cáo này của anh T, chị H. Anh T, chị H có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, giải quyết các yêu cầu về trách nhiệm dân sự chưa được giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với kháng cáo đề nghị xem xét giảm mức bồi thường thiệt hại cho anh Đ, HĐXX thấy: Tại cấp sơ thẩm, người bị hại là anh Đ yêu cầu bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 500.000.000đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các hóa đơn, chứng từ cũng như các chi phí thực tế mà anh Đ đã phải chi trả nên chấp nhận một phần yêu cầu của anh Đ, buộc anh T, chị H bồi thường cho anh Đ các khoản tiền gồm: chi phí cho việc cứu chữa là 37.258.899 đồng; thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút là 30.000.000 đồng; chi phí đi lại, chi phí thuê nhà, khám chỉnh sửa chân giả là 10.000.000 đồng; mua thuốc ngoài theo chỉ định của bác sỹ là 10.371.924 đồng; lắp chân giả 142.000.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc anh Đ là 4.500.000 đồng; thuê bác sỹ đến nhà thay băng nặn dịch hàng ngày và tiền thuốc tại nhà là 4.500.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần là 29.800.000 đồng; tổng số tiền là 268.431.000 đồng (đã làm tròn) là phù hợp, do đó không có căn cứ giảm mức bồi thường thiệt hại như kháng cáo của anh T, chị H.
Đối với kháng cáo buộc bị cáo K phải chịu trách nhiệm trả tiền án phí dân sự sơ thẩm là 13.421.500 đồng, HĐXX thấy: Tòa án cấp sơ thẩm xác định anh T, chị H là chủ sở hữu xe ô tô 15C-371.09 - là nguồn nguy hiểm cao độ và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Đ theo quy định tại Điều 601 Bộ luật dân sự và mục 2, phần III Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Yêu cầu bồi thường của anh Đ được chấp nhận một phần nên người có nghĩa vụ bồi thường phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 23, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Trong vụ án này, anh T, chị H phải bồi thường số tiền 268.431.000 đồng cho anh Đ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 13.421.500 đồng là đúng quy định của pháp luật, không có căn cứ buộc bị cáo K phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm này.
Từ những nhận định trên, HĐXX không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của anh Bùi Nguyên T và chị Trần Thị Thu H.
Về án phí: Kháng cáo của anh T, chị H không được chấp nhận nên mỗi người phải chịu 300.00đồng án phí hình sự phúc thẩm (về phần trách nhiệm dân sự).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không xem xét, do đó có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của anh Bùi Nguyễn T và chị Trần Thị Thu H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 76A/2022/HS-ST ngày 08/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
2. Về án phí phúc thẩm: Anh Bùi Nguyên T và chị Trần Thị Thu H, mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí hình sự phúc thẩm (về trách nhiệm dân sự).
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án, ngày 31/8/2022.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở TP tỉnh HD; - Phòng HSNV-CA tỉnh HD; - TAND thành phố Hải Dương; - Công an thành phố Hải Dương; - VKSND thành phố Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Hải Dương; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ; Lưu Tòa. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đoàn Thị Hƣơng Nhu |