- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuoi con"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE ________________________ Bản án số: 88/2022/HNGĐ - ST Ngày: 11/7/2022. V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phá n - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Ngọc Tú. Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Đức Tâm.
2. Ông Lê Văn Cảnh.
- Thư ký phiên tòa : Bà Trần Thị Phượng Tường - Thư ký Tòa án nhân dân huyê ̣n Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em - Kiểm sát viên. Ngày 11 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số : 196/2022/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022 về viê ̣c “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số : 63/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự: * Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Hồng L - Sinh năm: 1988; địa chỉ: ấp AQ, xã ANT, huyện BT, tỉnh Bến Tre, có yêu cầu giải quyết vắng mặt. * Bị đơn: Anh Nguyễn Minh P - Sinh năm: 1980; địa chỉ: ấp A, thị trấn GT, huyện GT, tỉnh Bến Tre, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khở i kiê ̣n, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: Về hôn nhân: Năm 2018, chị Ngô Thị Hồng L và anh Nguyễn Minh P có tiến đến hôn nhân, hôn nhân giữa anh chị là tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn GT, huyện GT vào ngày 29/01/2018. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc vài năm thì có mâu thuẫn mà nguyên nhân là do cuộc sống chung có nhiều bất đồng quan điểm, giữa anh chị thường xảy ra cãi vã và đã sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân, giữa anh chị nhiều lần trao đổi về việc đoàn tụ nhưng không thành. Cho rằng tình cảm vợ chồng là không còn nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh P. Về con chung: Anh chị có 01 người con chung là Nguyễn Xuân N - Sinh ngày 14/02/2019. Hiện đang sống với chị L. Sau khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi con mà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ: Không có. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày: Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn vắng mặt nên không có lời trình bày. Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục tố tụng. Về quan điểm giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh P. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Xuân N - Sinh ngày 14/02/2019 cho chị L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc chị L không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Chị L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về nợ: Chị L khai không có nên không xem xét. Anh P vắng mặt và không gửi cho Tòa án yêu cầu gì liên quan đến tài sản, nợ nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứ u các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án được thẩm tra ta ̣i phiên tòa và căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n đi ̣nh: [1] Về tố tụng: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do các bên tranh chấp và nguyên đơn có đơn khởi kiện nên Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, việc Tòa án không thể tiến hành hòa giải và việc xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị Ngô Thị Hồng L và anh Nguyễn Minh P là tự nguyện. Anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn GT, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào ngày 29/01/2018. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc một thời gian thì đời sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn và anh chị đã sống ly thân. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị L kiên quyết ly hôn với anh P. Anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của anh. Từ đó cho thấy, anh không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa anh chị. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh P là phù hợp. [3] Về con chung: Anh chị có 01 người con chung là Nguyễn Xuân N - Sinh ngày 14/02/2019. Hiện nay con chung đang sống với chị L Do con đang sống với chị L nên cần giao con cho chị tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận việc chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. [4] Về tài sản: Chị L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. [5] Về nợ: Chị L khai không có nên không xem xét. Anh P vắng mặt và không gửi cho Tòa án yêu cầu gì liên quan đến con chung, tài sản, nợ nên không xem xét. [6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [7] Về án phí: Các đương sự phải nộp án phí theo quy định. Vì các lẽ trên,
́
QUYÊT ĐI ̣NH:
Căn cứ vào các điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 85, 86 của Luật hôn nhân và gia đinh; ̀ Các điều 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Về hôn nhân: Chị Ngô Thị Hồng L được ly hôn với anh Nguyễn Minh P. 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Xuân N - Sinh ngày 14/02/2019 cho chị L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, hiện nay con đang sống với chị L. Ghi nhận việc chị L không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lợi dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chung cha, mẹ hoặc cơ quan có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con. 3. Về tài sản: Chị L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. 4. Về nợ: Chị L khai không có nên không xem xét. Anh P vắng mặt và không gửi cho Tòa án yêu cầu gì liên quan đến con chung, tài sản, nợ nên không xem xét. 5. Về an phi sơ thẩm : Nguyên đơn phải nô ̣p 300.000đồng (ba trăm ngàn
́
́ đồng) tiền án phi hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án
́ phí đã nộp là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng ) theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0008053 ngày 20/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí. 6. Về quyền khá ng cá o: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Giồng Trôm; - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm; - TAND tỉnh Bến Tre; - UBND xã (nơi cấp giấy chứng nhận kết hôn); - Lưu hsva, Vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký tên và đóng dấu) Dƣơng Ngọc Tú |