- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại danh sự nhân phẩm"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 229/2021/DS-ST ngày 17/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2022/DS-PT Ngày: 23 - 5 - 2022 V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thám
Các Thẩm phán:
Ông Trần Minh Hải;
Bà Ngô Ngọc Phỉ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phan Ý Vy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Phước Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2022/TLPT-DS ngày 08/02/2022 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 229/2021/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm
2021 của Toà án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 07/2022/QĐ-PT ngày 08 tháng 02 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 46/2022/QĐ-PT ngày 04/3/2022; số 87/2022/QĐ-PT ngày 29/3/2022 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 39/2022/QĐ-PT ngày 25/4/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1967;
Nơi cư trú: tổ 9, ấp BH 1, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Tuyết H, sinh năm 1970;
Nơi cư trú: ấp BH, xã BL, huyện CP, tỉnh An Giang.
3. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị M là nguyên đơn trong vụ án.
Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung án sơ thẩm,
- Tại đơn khởi kiện ngày 21 tháng 8 năm 2020 và lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:
Bà và bà H không có quen biết, không có mối quan hệ bà con.
Vào ngày 02/7/2020, bà H và một số người có đến nhà bà mắng chửi, đe doạ giết bà, dùng nhiều lời lẽ thô tục xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà. Sự việc xảy ra ngày 02/7/2020 thì bà có ghi âm, ghi hình lại và sự việc có nhiều người chứng kiến như: Mai Thị Tuyết N, địa chỉ: ấp BH 1, xã BM, huyện CP; Nguyễn Văn Tám, địa chỉ: ấp BH 1, xã BM, huyện CP; Hồ Thị T, địa chỉ: ấp BH 1, xã BM, huyện CP. Bà đề nghị Toà án mời những người này đến để lấy lời khai, làm chứng cho bà. Bà H và nhóm người này chửi mắng bà khoảng 15 phút thì bỏ về, không có dùng vũ lực đánh bà hay phá hoại tài sản gì của bà.
Ngoài ra, bà H dùng hình ảnh của bà đăng zalo, facebook mà chưa được sự đồng ý của bà và đăng kèm hình có kèm theo “các bạn có gặp người này ở khu cái dầu, sao mai thì liên hệ dùm mình”. Theo bà lời lẽ của bà H đăng kèm hình ảnh mang tính chất đe doạ bà và làm ảnh hưởng đến uy tín cũng như công việc của bà.
Sau khi sự việc xảy ra, bà có điện thoại báo công an xã BM nhưng không được nên bà để qua ngày thứ 2 tuần kế tiếp thì bà đi trực tiếp lên công an huyện CP để báo sự việc. Được cán bộ huyện hướng dẫn thì bà quay về lại công an xã tường trình và được hẹn lại làm việc. Vào ngày 04/8/2020, bà và bà H đến công an xã làm việc và có lập biên bản giải quyết cùng ngày.
Thời điểm công an xã làm việc, bà không có nêu ra các yêu cầu về bồi thường thiệt hại mà chỉ dừng lại ở việc xác minh làm rõ và bà H bị xử phạt hành chính.
Do đó bà khởi kiện yêu cầu bà H bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín, gồm:
- Mất thu nhập từ ngày 02/7/2020 – 12/3/2021: 500.000đ/ngày x 256 ngày = 128.000.000 đồng, do cho đến nay bà vẫn chưa mua bán lại, do con cái bà mắng bà, cự bà về sự việc đó và bà ngại việc hàng xóm dị nghị, đồng thời do bà đang mệt nên không mua bán từ ngày xảy ra sử việc cho đến nay;
Ngày 02/7/2020 là ngày xảy ra sự việc và ngày 04/8/2020 là ngày công an xã mời làm việc, công việc của bà là buôn bán tại chợ BM, thu nhập trung bình là 500.000đ/ngày. Do từ ngày xảy ra sự việc, bà đóng cửa không còn buôn bán được do các con của bà mắng chửi, cự nự bà nên bà buồn nản mà đóng cửa không buôn bán, vẫn có người đến hỏi mua đồ bình thường nhưng do bà không muốn bán vì buồn và sợ người ta dị nghị. Bà H chỉ đến nhà bà có 01 lần duy nhất vào ngày 02/7/2020, thời gian sau này bà H không có đến nhà bà lần nào khác.
- Tiền xe đi lại và photo giấy tờ: 2.000.000 đồng; Khi xảy ra sự việc, bà có đi lên công an huyện 08 lần, nhưng không nhớ rõ thời gian, lý do để nhắc nhở việc giải quyết cho bà, 50.000đ/lượt xe ôm; bà đi lên công an BL 04 lần, thời gian không nhớ rõ, lý do đi nộp tường trình vì nhà bà H là ở BL, 50.000đ/lượt xe ôm; bà đi lên công an BM đi nhiều lần nhưng không nhớ bao nhiêu lần và thời gian nào, 20.000đ/lượt xe ôm; tiền bà photo tài liệu, đánh đơn thưa, đơn khởi kiện…bà cũng không nhớ rõ là bao nhiêu nhưng bà ước chừng tổng cộng tiền xe và tiền photo, làm đơn: 2.000.000 đồng.
- Tổn thất tinh thần: 10 tháng lương cơ sở 1.490.000đ/tháng x 10 tháng = 14.900.000 đồng; Từ khi xảy ra sự việc, các con của bà cự nự, mắng mỏ bà rất nhiều, gia đình bà xào xáo nên tinh thần bà không tốt, sa sút, khó ngủ. Bà không có phải đi điều trị tâm lý hay có biểu hiện tiêu cực gì khác.
- Công khai xin lỗi bà tại nơi cư trú (tại nhà của bà) và đăng 05 số liên tục trên báo An Giang, đài phát thanh truyền hình An Giang.
Bà và bà H, ông S – chồng bà H và những người đi cùng bà H hoàn toàn không hề quen biết do đó việc bà H cho rằng do bà đặt chuyện nói bà H đi nhà nghỉ cùng người đàn ông khác là không có. Lý do vì sao bà H lại đến nhà bà gây sự thì bà cũng không biết. Chỉ sau khi sự việc xảy ra những người ở địa phương chứng kiến nói thì bà mới biết đây là bà H, ông S.
- Theo bản trình bày ý kiến ngày 12/3/2021 và lời khai của bị đơn bà Nguyễn Tuyết H trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:
Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do:
Ngày 02/7/2020, bà và ông Ngô Tấn S, bà Lê Thị S2, Lê Thị S3 có đến nhà bà M đến gặp bà M nói chuyện. Do trước đó chồng bà gây chuyện, đánh bà nói bà đi nhà nghỉ cùng người đàn ông khác và nói việc bà đi nhà nghỉ là bà M nói cho chồng bà biết. Nên bà và chồng bà đến nhà bà M để nói chuyện đối chất cho rõ sự việc. Nhưng khi đến nơi thì bà M chối là không biết và không quen ai nên đuổi các ông bà về. Bà xác định là bà và những người đi cùng không có mắng chửi, không có đe doạ hay lời lẽ gì xúc phạm danh dự nhân phẩm của bà M. Chỉ nói về việc bà bị chồng đánh và vạch các vết bầm ra, có nói do bà M nói chuyện như vậy nên bà mới bị chồng đánh. Bà cũng không có việc hăm he hay dùng vũ lực gì đối với bà M.
Việc bà đăng hình ảnh bà M lên zalo, facebook là vì muốn gặp bà M để cùng nhau lên công an làm việc, làm rõ việc nói bà đi nhà nghỉ làm gia đình bà ảnh hưởng, phá vỡ hạnh phúc gia đình của bà. Bà đăng hình ảnh bà M là không có hỏi ý kiến của bà M nhưng khi đăng bà cũng không có lời lẽ gì đe doạ hay làm ảnh hưởng danh dự nhân phẩm bà M. Và công an có mời bà lên làm việc về sự việc bà đăng zalo, facebook, tại công an bà có ký tên vào 2 biên bản nhưng bà không có đọc lại nội dung. Bà nghe công an nói nếu bà chấp nhận gỡ hình ảnh trên zalo, facebook thì bà ký tên vào biên bản nên bà mới đồng ý ký và gỡ hình ảnh xuống ngay tại trụ sở công an.
Toàn bộ sự việc xảy ra không có gây ảnh hưởng gì đến bà M nên bà không đồng ý bồi thường, việc bà M có mất thu nhập hay không thì bà không biết do bà chỉ xuống nhà bà M có 01 lần vào ngày 02/7/2020, nhà bà M ở ngay chợ BM và có buôn bán, theo bà thì thu nhập của bà M không đến 500.000đ/ngày nhưng bao nhiêu thì bà không rõ.
Việc bà M đi lại nộp đơn, photo tài liệu, hình ảnh… là việc do bà M tự ý làm, không liên quan gì đến bà nên bà cũng không đồng ý bồi thường.
Theo bà thì bà M không có tổn thất gì về tinh thần nên bà cũng không đồng ý bồi thường thiệt hại. Bà cũng không đồng ý việc công khai xin lỗi hay đăng báo đài.
Việc công an giải quyết ngày 11/8/2020 là xử lý việc bà đăng ảnh bà M lên zalo, facebook, không phải là giải quyết sự việc ngày 02/7/2020. Bà đồng ý ký tên vào các biên bản làm việc là vì nghe công an nói nếu đồng ý gỡ ảnh xuống khỏi zalo, facebook thì ký tên, lúc này bà đã gỡ nên bà mới ký tên vào.
- Kết luận giám định số 50/KLGT-PC09(TL) ngày 11 tháng 6 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang:
Kết luận về đối tượng giám định
- Các chữ viết “thừa nhận hành vi vi phạm” tại dòng thứ 30 tính từ trên xuống trên Biên bản vi phạm hành chính số 0123853/BB-VPHC cần giám định (ký hiệu:A1) so với các chữ viết khác trong cùng biên bản (trừ chữ ký và chữ viết tên Nguyễn Tuyết H dưới mục “NGƯỜI (HOẶC ĐẠI DIỆN TỔ CHỨC) VI PHẠM” do cùng một người viết ra.
Không đủ cơ sở kết luận thời điểm viết các chữ viết “thừa nhận hành vi vi phạm” tại dòng thứ 30 tính từ trên xuống trên Biên bản vi phạm hành chính số 0123853/BB-VPHC cần giám định (ký hiệu:A1) so với các chữ viết khác trong cùng biên bản có cùng thời điểm viết hay không.
- Các chữ viết “và tôi có lời lẽ nhục mạ, xúc phạm nhân phẩm bà M” và các chữ viết “xúc phạm bà M” tại dòng thứ 28 và dòng thứ 31 tính từ trên xuống trên trang 02 Biên bản ghi lời khai ngày 29/7/2020 cần giám định (ký hiệu:A2) so với các chữ viết khác trong cùng biên bản (trừ các chữ viết “Thiều Quang Lạc – Trưởng CAX”, “Công an xã BM” tại dòng 6, dòng 7 tính từ trên xuống trên trang 01 và chữ ký, chữ viết tên Nguyễn Tuyết H dưới mục “NGƯỜI KHAI”) do cùng một người viết ra.
Không đủ cơ sở kết luận thời điểm viết các chữ viết “và tôi có lời lẽ nhục mạ, xúc phạm nhân phẩm từ bà M” và các chữ viết “xúc phạm bà M” tại dòng thứ 28 và dòng thứ 31 tính từ trên xuống trên trang 02 Biên bản ghi lời khai ngày 29/7/2020 cần giám định (ký hiệu:A2) so với các chữ viết khác trong cùng biên bản có cùng thời điểm viết hay không.”
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 229/2021/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện CP, quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M về yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín.
Về chi phí trưng cầu giám định: Bà Nguyễn Tuyết H phải chịu 3.060.000 đồng (ba triệu, không trăm sáu mươi ngàn đồng) chi phí trưng cầu giám định. Bà đã tạm ứng 2.000.000 đồng, bà còn phải nộp bổ sung 1.060.000 đồng cho Toà án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M được miễn nộp tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Tuyết H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, đến ngày 22/11/2021, bà Nguyễn Thị M nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết, buộc bà Nguyễn Tuyết H phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và công khai xin lỗi trên phương tiện truyền thông.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bà Nguyễn Thị M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo.
- Bà Nguyễn Tuyết H yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bà M.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật:
- Kể từ ngày thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của Bà Nguyễn Thị M, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 229/2021/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm đến ngày 22/11/2021, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M nộp đơn kháng cáo trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà M thuộc trường hợp không phải nộp tạm ứng án phí theo quy định. Do đó, được chấp nhận thụ lý vụ án để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
. Xét yêu cầu kháng cáo của bà M:
. Bà M khởi kiện yêu cầu bà H bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, bà cung cấp các biên bản làm việc của Công an xã BM, 02 tấm hình và 01 USB chứa 02 đoạn video sự việc. Bà H cho rằng bà không có xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà M do đó không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà M.
. Qua các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ cho thấy vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 02/7/2020 bà H cùng một số người có đến nhà bà M là thật và hai bên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi khoảng 5 phút thì nhóm bà H bỏ về. Theo như lời khai của ông Hùng, sự xác định của bà M cũng như nội dung thể hiện tại đoạn video do bà H cung cấp (bà M cũng xác định người phụ nữ trong video bà H cung cấp là bà) cho thấy bản thân bà M cũng lớn tiếng cự cãi lại, cụ thể cự cãi lại với ai thì không rõ và cụ thể từng câu nói giữa hai bên như thế nào thì không xác định được và nay bản thân bà M cũng không nhớ cụ thể bà H đã chửi gì bà. Do đó, chưa đủ cơ sở xác định ngày 02/7/2020 bà H có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà M.
. Bà M cho rằng việc bà H đăng ảnh bà và lời lẽ kèm theo mang tính chất đe doạ bà và làm ảnh hưởng đến uy tín cũng như công việc của bà. Tuy nhiên, tấm hình của bà M mà bà H đăng lên là ảnh bà M tự chụp mình tại bữa tiệc cưới và theo bà M bà dùng tấm hình này làm ảnh đại diện zalo, facebook của bà. Việc bà H tự ý đăng ảnh của bà M lên mạng xã hội là sai, tuy nhiên tấm ảnh này bà M cũng đã đăng công khai trên mạng xã hội và câu “các bạn có gặp người này ở khu cái dầu, sao mai thì liên hệ dùm mình” của bà H cũng không có nội dung đe doạ, bêu xấu, làm nhục bà M. Đồng thời, sau khi sự việc xảy ra bà H cũng đã xoá bài, gỡ ảnh bà M và chịu phạt hành chính và bà M cũng chưa chịu thiệt hại nào bởi sự việc này.
. Tại giai đoạn phúc thẩm, sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, bà M có đơn yêu cầu Tòa án triệu tập người làm chứng bà Lê Thị Kim S2 và ông Ngô Tấn S để làm rõ. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, ở giai đoạn sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang có triệu tập ông S và bà S2 đến trụ sở Tòa án lấy lời khai của ông S và bà S2, qua nội dung làm việc thì ông S và bà S2 đều khai vào ngày 02/7/2020 ông S, bà S2 cùng với bà H đến nhà bà M để gặp bà M đối chất sự việc, nhưng khi đến nhà gặp bà M hỏi sự việc đã xảy ra thì bà M nói không quen biết và đuổi mọi người về, nên giữa bà M với bà S2 có lời lẽ cự cãi qua lại với nhau, chứ bà H không có chửi, đe dọa hay lời lẽ gì xúc phạm bà M. Qua lời khai của ông S, bà S2 phù hợp với lời khai của bà M và bà H tại phiên tòa. Ngoài ra, tại phiên tòa Hội đồng xét xử phúc thẩm có công bố đoạn video do bà H cung cấp cho bà M xem, sau khi xem đoạn video bà M xác định người phụ nữ trong đoạn video là bà, cho thấy bản thân bà M cũng lớn tiếng cự cãi lại, cụ thể cự cãi lại với ai thì không rõ. Trong đoạn video không thể hiện việc bà H chửi, đe dọa hay lời lẽ gì xúc phạm bà M, việc này bà M cũng xác nhận tại phiên tòa là bà H không có lời lẽ xúc phạm gì bà M.
. Từ các phân tích trên, không có đủ cơ sở để xác định bà H có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà M, do đó Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M về việc yêu cầu bà H bồi thường thiệt hại là hoàn toàn có cơ sở.
. Bà M kháng cáo nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bà M cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới cho yêu cầu của bà. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M, như đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 229/2021/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.
. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà M được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Phúc xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 229/2021/DS-ST ngày 17/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 584, Điều 592 Bộ luật dân sự 2015;
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M về yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị M được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND AG; - Phòng KTNV và THA; - TAND huyện; - THA huyện; - Văn Phòng; - Tòa Dân sự; - Đương sự (để thi hành); - Lưu hồ sơ . | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀTM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Thám |