- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Thị Ngọc P tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Thị Ngọc P phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2021/HS-ST Ngày 20-4-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Ái;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Phương Trang và Bùi Diệu Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Tiền Quí Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2021, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2021/HSST ngày 04 tháng 3 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Đào Thị Ngọc P, sinh năm 1976, tại tỉnh Bạc Liêu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã H H, huyện V L, tỉnh Bạc Liêu; nơi ở: Không ổn định; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn T và bà Khương Thị K; có chồng (không có đăng ký kết hôn) và 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ ngày 05-11-2020, tạm giam ngày 11-11-2020 “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 10 phút ngày 05/11/2020, Đội Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Ma túy - Công an quận Bình Tân cùng với Công an phường B H H tuần tra đến trước nhà số 670, đường L T T, Khu phố 1, phường B H H, quận B T thì nhìn thấy Đào Thị Ngọc P đang điều khiển xe môtô biển số 59C3-081.67 có biểu hiện nghi vấn nên ra hiệu dừng xe lại để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ từ trong áo ngực bên phải của P 01 bịch nylon màu đen bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu. Lúc này, P cho biết đó là ma túy loại “hàng đá” để sử dụng nên đưa P cùng vật chứng đến Công an phường B H H xử lý người có hành vi phạm tội quả tang rồi sau đó chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Tại đây, P khai do nghiện ma túy nên trước đó đã đến khu vực đường 5C, phường B H H A, quận Bình Tân dùng chiếc điện thoại di động hiệu Samsung, số thuê bao 0344738667 liên lạc với người phụ nữ (không rõ lai lịch) mua số ma túy trên với giá 7.200.000 đồng và khi đang trên đường mang về để dành sử dụng dần thì bị kiểm tra bắt giữ.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đào Thị Ngọc P khai nhận, do nghiện ma túy từ năm 2018 nên đã đến khu vực đường 5C, thuộc phường B H H A, quận Bình Tân mua 02 gói túy loại “hàng đá” của người phụ nữ (không rõ lai lịch) với giá 7.200.000 đồng và khi đang trên đường mang số ma túy này về để dành sử dụng dần thì bị Công an kiểm tra bắt giữ nên nay bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đồng thời không có ý kiến gì về hàm lượng ma túy đã giám định và việc giải quyết vật chứng.
Bản cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 26 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đào Thị Ngọc P ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: Bị cáo Đào Thị Ngọc P đã có hành vi cất giữ số ma túy ở thể rắn, có khối lượng 20,0229g, loại Methamphetamine để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an tại địa P nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 07 năm đến 08 năm tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về vật chứng, đề nghị tịch sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung; tiêu hủy 01 gói ma túy đã giám định và 01 bịch nylon.
Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra – Công an quận Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý
2
kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo Đào Thị Ngọc P tại phiên tòa hôm nay cho thấy: Vào lúc 16 giờ 10 phút ngày 05/11/2020, tại trước nhà số 670, đường L T T, Khu phố 1, phường B H H, quận B T. Bị cáo đã có hành vi cất giữ 01 bịch nylon màu đen bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Theo Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an thành phố Hồ Chí Minh thì, “Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Đào Thị Ngọc P, Nguyễn Ngọc T (Điều tra viên), Nguyễn Quốc D (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường B H H, quận Bình Tân” gửi đến giám định “đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 20,0229g, loại Methamphetamine”. Do đó, bị cáo Đào Thị Ngọc P đã phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, biên bản niêm phong, mở niêm phong, kết luận giám định hàm lượng ma túy…nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và mức án đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Riêng đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo, do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra còn đang tiếp tục truy xét đến khi nào phát hiện được sẽ xử lý sau là phù hợp.
Xét chất ma túy là loại chất kích thích do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và mua bán. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai và vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, mang tính chất liều lĩnh, xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và có thể là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy
3
bị cáo làm nghề tự do và không có điều kiện kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với chiếc xe môtô biển số 59C3-081.67, do chị Ngô Hoàng Lệ N đứng tên sở hữu và đã bán lại cho anh Trương Vũ L; sau đó, anh L bán xe lại cho con ruột của bị cáo chị T N Ý; chị Ý cho bị cáo mượn xe đi công việc và không biết bị cáo sử dụng làm P tiện đi mua ma túy, Cơ quan điều tra đã thu hồi và giao trả xe lại cho chị Ý nên không xét. Còn 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, bị bể màn hình, số thuê bao 0344738667 của bị cáo dùng liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước. Riêng 01 gói niêm phong, bên trong có ma túy đã giám định, bên ngoài có chữ ký ghi tên Đào Thị Ngọc P, Nguyễn Ngọc T (Điều tra viên), Nguyễn Quốc D (Người chứng kiến) và hình dấu Công an phường B H H, quận Bình Tân là chất kích thích, Nhà nước cấm sử dụng; 01 bịch nylon màu đen của bị cáo dùng đựng 02 gói ma túy nên cần tịch thu tất cả để tiêu hủy.
Bị cáo Đào Thị Ngọc P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Thị Ngọc P phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về điều luật áp dụng và phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt bị cáo Đào Thị Ngọc P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05-11-2020.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, bị bể màn hình, số thuê bao 0344738667. Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 gói niêm phong, bên trong có ma túy đã giám định, bên ngoài có chữ ký ghi tên Đào Thị Ngọc P, Nguyễn Ngọc T (Điều tra viên), Nguyễn Quốc D (Người chứng kiến) và hình dấu Công an phường B H H, quận Bình Tân; 01 bịch nylon màu đen.
(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số NK21/105TAM, ngày 03/02/2021)
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Đào Thị Ngọc P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Thị Ngọc P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - VKSND QBT; - CA QBT; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ –Văn phòng. 5 | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Văn Ái |