vanban.org

Bản án 88/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội Tuyên án 25/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Lê Văn K 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 25/8/2021) Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì có chứa ma túy đã niêm phong gửi lại sau giám định tên đối tượng là Lê Văn K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2021/HS-ST
Ngày: 25/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hạ Tuấn và ông Đặng Viết Côi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hång – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà:

bà Nguyễn Thị Khuyến -Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Văn K; sinh năm 1985; HKTT và nơi ở:thôn ĐL, xã PT, huyện PX, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lê Văn Q, sinh năm: 1965; con bà: Nguyễn Thị T1 – sinh năm: 1964; vợ: Trần Thị T2 – sinh năm: 1987; con 02 ( lớn sinh năm: 2006; nhỏ sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an TP. Hà Nội. Có mặt t¹i phiªn tßa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Văn T - sinh năm 1992. Vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm Đông, xã HM, huyện PX, TP. Hà Nội

* Người làm chứng:

+ Nguyễn Thị Thanh H – sinh năm: 1992. Trú tại: thôn MC, xã LC, huyện TO, TP. Hà Nội (Vắng mặt)

+ Anh Phạm Văn D – sinh năm: 1980. Trú tại: Thôn CK, xã TT, huyện UH, TP. Hà Nội (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 25/8/2021, Tổ công tác xã TT, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội đang làm nhiệm vụ tại thôn CK, xã TT thì phát hiện Lê Văn K, sinh năm: 1985, trú tại thôn ĐL, xã PT, huyện PX, TP. Hà Nội đang điều khiển xe moto Wave anpha màu xanh đen, biển kiểm soát 29Y7 – 523.95 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Tại chỗ K lấy từ túi quần bên phải ra 01 túi nilong màu trắng kích thước (10x5)cm, bên trong có 01 túi nilong màu trắng, kích thước (5x3)cm; trong túi có các tinh thể màu trắng, K trình bày đó là ma túy vừa mua được của một người đàn ông không quen biết khu vực xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa với giá 2.800.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và chuyển K cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ liên quan đến Công an huyện Ứng Hòa để giải Q theo quy định của pháp luật.

Vật chứng thu giữ được:

- 01 túi nilong màu trắng, có kích thước (10x5) cm, bên trong có 01 túi nilong màu trắng, có kích thước (5x3) cm; Trong cùng có chứa các tinh thể màu trắng.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha màu xanh đen, Biển kiểm soát 29Y7 – 523.95, không có yếm.

Ngày 25/8/2021, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Ứng Hòa Q định trưng cầu giám định số 198 ®èi víi số ma tóy trªn. KÕt qu¶ tại bản kết luận giám định số 6613/KLGĐ-PC09 ngày 01/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông (Đựng trong 01 túi nilong) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 9.883 gam.

Ngày 26/8/2021, Cơ quan CSĐT – công an huyện Ứng Hòa đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Lê Văn K tại thôn ĐL, xã PT, huyện PX, TP. Hà Nội. Kết quả: Không thu giữ vật chứng gì.

Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 83/CT-VKS ngày 21 tháng 10 năm 2021 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã truy tố bị cáo Lê Văn K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự

Tại phiên toà: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo K từ 06 năm tù đến 07 năm tù; Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS: tịch thu tiêu hủy số ma túy gửi lại sau giám định; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; trả lại cho anh Nguyễn Văn T chiếc xe máy Wave anpha, màu xanh đen, biển kiểm soát: 29Y7 – 523.95. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.

Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người liên quan và người làm chứng; vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Ngµy 25/8/2021, Lê Văn K ở ĐL, xã PT, huyện PX, TP. Hà Nội điều khiển xe moto biển kiểm soát: 29Y7 – 523.95 tàng trữ 09.883 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân, khi đi đến địa phận thôn CK, xã TT thì bị Lực lượng công an xã TT, huyện Ứng Hòa kiểm tra, bắt quả tang.

Hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét, hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn K đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, làm gia tăng tệ nạn ma tuý, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với nguồn gốc số ma túy, K khai mua của một người đàn ông không quen biết, cao khoảng 1m65, tầm 40 tuổi. Ngoài ra, K không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, việc mua bán diễn ra ở ngoài đường, không ai biết. Do đó, không có đủ cơ sở để xác minh làm rõ nên không đề cập xử lý.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe m« t« BKS 29Y7 – 523.95: Quá trình điều tra đã xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn T – SN 1992 ở thôn Đông, xã HM, huyện PX, TP. Hà Nội. Ngày 25/8/2021, K mượn chiếc xe máy trên của anh T để đi đâu, làm gì anh T không biết nên anh T không có lỗi. Do đó, trả anh T chiếc xe này là có căn cứ.

Đối với số ma túy gửi lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.

Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333BLTTHS năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46, 47 của BLHS; Căn cứ Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS.

Căn cứ Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt Lê Văn K 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 25/8/2021)

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì có chứa ma túy đã niêm phong gửi lại sau giám định tên đối tượng là Lê Văn K.

- Trả cho anh Nguyễn Văn T chiếc xe moto Wave anpha màu xanh đen, không yếm, đã cũ, biển kiểm soát: 29Y7 – 523.95

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ngày 10/11/2021)

4. Về án phí: Bị cáo Lê Văn K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi liên quan được kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Cỡ chữ