- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hữu A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Hữu A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 88/2021/HS-ST Ngày: 28/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Duy Phi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Tiến Hùng, ông Hoàng Văn Hào
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Bùi Nguyên Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hữu A, Tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/5/1990; Nơi cư trú: Xóm 4, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao Động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông: Lê Hữu Q, sinh năm 1960 (đã chết), con bà Trần Thị H, sinh năm 1963; Vợ: Trương Thị S, sinh năm 1989; Con: có 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017); Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2021 đến ngày 31/8/2021, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ, ngày 23/7/2021 bị cáo Lê Hữu A đi bộ từ nhà ở của mình tại xóm 4, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An lên Cầu Đô Lương thuộc địa phận xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An để mua ma túy về sử dụng. Khi đang đi trên đường bị cáo A đã xin ngồi nhờ xe máy của một người đi đường. Khi đến Cầu Đô Lương bị cáo xuống xe thì gặp 01 người đàn ông không quen biết và nghi ngờ người đàn ông này cũng nghiện ma túy nên bị cáo A hỏi “Anh lấy được hàng không, lấy giúp em hai trăm” – ý của bị cáo A hỏi nhờ người đàn ông đó mua cho bị cáo 200.000 đồng ma túy, người đàn ông đáp “Lấy được” nên bị cáo A đưa cho người đàn ông này 200.000 đồng và ngồi chờ. Người đàn ông đó nhận tiền từ bị cáo rồi đi được khoảng 10 phút thì quay lại và đưa cho bị cáo A 01 gói giấy bên trong có chứa ma túy. Bị cáo A cần gói ma túy bỏ vào túi quần phía trước bên phải rồi đi về nhà. Khoảng 11 giờ 15 phút bị cáo A về đến nhà thì bị tổ tuần tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An phát hiện và bắt quá tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy nhỏ màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng (Nghi là ma túy).
Ngày 23/7/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã thành lập Hội đồng mở niêm phong cân xác định khối lượng chất bột thu của bị cáo Lê Hữu A có khối lượng 0,158 gam và Hội đồng thống nhất sử dụng toàn bộ chất bột thu giữ của bị cáo A để gửi đi giám định.
Kết luận giám định số 1149/KL-PC09 ngày 29/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Chất bột thu của Lê Hữu A là ma túy Heroine, có khối lượng 0,158g.
Cáo trạng số 90/CT-VKS-ĐL ngày 31/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lê Hữu A về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt bị cáo Lê Hữu A từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư màu trắng của Công an huyện Đô Lương, kích thước 17x23cm, bên trong có chứa vỏ phong bì niêm phong ban đầu, vỏ giấy màu trắng thu của bị cáo Lê Hữu A; Về án phí: Bị cáo Lê Hữu A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trang truy tố là đúng nên không tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Xét hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà có cơ sở để kết luận: Vào khoảng 11 giờ 15 phút, ngày 23/7/2021, tại xóm 4, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An bị cáo Lê Hữu A đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,158g ma túy Heroine. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiến hành vi của mình. Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Hữu A đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi của bị cáo:
Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại nghiêm trọng là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý ma túy của nhà nước và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý; động cơ mục đích phạm tội là tàng trữ để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng năng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có công việc ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Về vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan Điều tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã thu giữ 0,158g ma túy Heroine của bị cáo Lê Hữu A nhưng đã lấy toàn bộ đi giám định, quá trình giám định đã sử dụng hết; nay còn lại 01 phong bì thư màu trắng của Công an huyện Đô Lương, kích thước 17x23cm, bên trong có chứa vỏ phong bì niêm phong ban đầu, vỏ giấy màu trắng thu của bị cáo Lê Hữu A không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông mà bị cáo nhờ mua ma túy theo bị cáo Lê Hữu A khai. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã điều tra, xác minh nhưng tại khu vực Cầu Đô Lương thuộc địa phận xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An không có người đàn ông nào có đặc điểm như bị cáo mô tả. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý, khi nào điều tra, xác minh được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An về việc giải quyết toàn diện vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Lê Hữu A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 BLHS; Điều 106; Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Hữu A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt: Bị cáo Lê Hữu A 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo để Thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam trước đó (từ ngày 23/7/2021 đến ngày 31/8/2021).
- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lê Hữu A.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư màu trắng của Công an huyện Đô Lương, kích thước 17x23cm, bên trong có chứa vỏ phong bì niêm phong ban đầu, vỏ giấy màu trắng thu của bị cáo Lê Hữu A. (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 01/9/2021, giữa Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An).
- Về án phí: Bị cáo Lê Hữu A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đô Lương; - Công an huyện Đô Lương; - Chi cục THA dân sự huyện Đô Lương; - Bị cáo Lê Hữu A; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Duy Phi |