- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Hỷ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 201…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trần Hỷ L 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2020.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2021/HS-ST Ngày 11 – 5 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quốc Đạt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Dương
2. Ông Nguyễn Phúc Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hỷ L (tên gọi khác: N), sinh năm 1990 tại tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: đường M, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn) 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc T (đã chết) và bà Thạch Phi Y; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; tạm giam từ ngày 08/12/2020 (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Hoàng Ngọc V, sinh năm 1977; nơi cư trú: đường N, Phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 08/12/2020, khi đang dừng xe mô tô biển số 59S2-372.13 trước ấp 2, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo bị Công an huyện Bình Chánh tiến hành kiểm tra, phát hiện trong ví da ở túi quần phía sau bên phải của bị cáo có 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể rắn không màu và trong mũ lưỡi trai màu xanh đen bị cáo đang đội trên đầu có 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể rắn không màu - nghi là chất ma túy.
Kết luận giám định số 2066/KLGĐ-H ngày 17/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu (trong 02 gói nylon niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Hỷ L) được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 3,7490g (ba phẩy bảy bốn chín không gam), loại Methamphetamine.
Bị cáo khai nhận đã sử dụng ma túy từ khoảng tháng 9/2020 đến ngày bị bắt. Vào khoảng 14 giờ ngày 08/12/2020, do hết ma túy để sử dụng nên bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 59S2-372.13 đến khu vực ngã tư Đường số 01 với Đường số 10 Khu dân cư B, ấp 2, xã B, huyện B mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) 02 gói ma túy với giá 900.000 đồng. Sau đó, bị cáo đem 02 gói ma túy đến Khách sạn R ở địa chỉ Khu dân cư B, Phường A, Quận B thuê phòng số 305 để sử dụng ma túy. Tại đây, bị cáo lấy một ít ma túy ra sử dụng, phần còn lại bị cáo cất giữ 01 gói vào ví da để trong túi quần phía sau bên phải, 01 gói cất giữ trong mũ lưỡi trai đội trên đầu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, bị cáo trả phòng khách sạn rồi điều khiển xe mô tô biển số 59S2-372.13 về nhà. khi đang trên đường đi thì bị cáo bị Công an phát hiện, bắt quả tang như trên.
Cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 08/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đã thực hiện phù hợp với nội dung nêu trên và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận, đã nhận thức hành vi vi phạm pháp luật, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Chánh, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Hỷ L khai nhận: Tối ngày 08/12/2020, bị cáo bị lực lượng Công an bắt quả tang khi đang tàng trữ 01 gói ma túy trong ví da bỏ trong túi quần và 01 gói ma túy trong mũ lưỡi chai màu xanh đen đang đội trên đầu. Số ma túy này bị cáo mua của người không rõ lai lịch và cất giữ để sử dụng cho bản thân.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, trong quá trình điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án và Kết luận giám định số 2066/KLGĐ-H ngày 17/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, xét có đủ chứng cứ để kết luận: Bị cáo Trần Hỷ L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố là đúng người, đúng tội.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Mặc dù, biết pháp luật cấm tàng trữ trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào nhưng do ham chơi đua đòi nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng. Hành vi này của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách quản lý ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý nghiêm bị cáo để có đủ tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa và đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo do chưa rõ lai lịch, nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra cần tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Về xử lý vật chứng vụ án:
- 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của bị cáo và hình dấu Công an xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh, bên trong chứa ma túy thu giữ của bị cáo (còn lại sau giám định): Đây là vật cấm lưu hành, tàng trữ, không sử dụng được nên tịch thu, tiêu hủy.
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh sọc trắng một đầu được cắt nhọn, 01 mũ lưỡi trai màu xanh đen, 01 ví da màu xanh đen: Tài sản này của bị cáo dùng để sử dụng và cất giữ ma túy, do không còn sử dụng được nên tịch thu, tiêu hủy.
- 01 Điện thoại di động hiệu Samsung A50: bị cáo khai là sử dụng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, gắn biển số 59S2-372.13, số máy LC150FMG-01192550, số khung LWAXCGL32YA192550. Kết quả xác minh như sau:
+ Xe mô tô có số khung, số máy nêu trên không có trong dữ liệu thông tin đăng ký. Bị cáo khai mua xe của một người đàn ông không rõ lai lịch vào năm 2017 và chưa sang tên nhưng không có giấy tờ để chứng minh;
+ Biển số 59S2-372.13 là của xe mô tô nhãn hiệu DAEHAN do ông Hoàng Ngọc V đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ông V khai đã bán xe cho một người không rõ lai lịch vào năm 2017 và không có yêu cầu gì,
Hội đồng xét xử xét thấy cần giao xe và biển số xe cho cơ quan thi hành án dân sự để tiến hành các thủ tục tìm chủ sở hữu, người quản lý tài sản hợp pháp và xử lý theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Dân sự 2015.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 228 Bộ luật Dân sự 2015
Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Xử phạt: Bị cáo Trần Hỷ L 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2020.
2. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy:
+ 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của bị cáo và hình dấu Công an xã A, huyện B, bên trong chứa ma túy thu giữ của bị cáo (còn lại sau giám định);
+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh sọc trắng một đầu được cắt nhọn;
+ 01 mũ lưỡi trai màu xanh đen, 01 ví da màu xanh đen.
- Trả lại cho bị cáo: 01 Điện thoại di động hiệu Samsung A50
- Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, số máy LC150FMG-01192550, số khung LWAXCGL32YA192550 và 01 (một) Biển số xe 59S2-372.13 để tiến hành các thủ tục tìm chủ sở hữu, người quản lý tài sản hợp pháp và xử lý theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Các vật chứng còn lại hiện này đang giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định chuyển vật chứng số 53/QĐ-VKS ngày 18/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/3/2021 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (11/5/2021), bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND TP.HCM; - VKSND huyện Bình Chánh; - Bị cáo; Đương sự; - Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh; - Chi cục Thi hành án dân sự; - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - Trại tạm giam Chí Hòa; - UBND Phường A, Quận B, Tp. HCM; - Lưu: Vp, Hồ sơ vụ án (Tp. Đạt, Tk Tuấn). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đỗ Quốc Đạt |