vanban.org

Bản án 88/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 24/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý tang vật: Căn cứ điểmc khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm akhoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 ví da màu đen và 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói; Trả lại bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Đặng Quang T; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý tang vật: Căn cứ điểmc khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm akhoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN N DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:88/2020/HS-ST
Ngày 24-6-2020

N DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN N DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm N dân: Bà hà Thị Nga

Ông Nguyễn Văn Hạnh

- Thư ký phiên toà:Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan-Thư ký Toà án N dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát N dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hoài- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Toà án N dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 71/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2020theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số125/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2020đối với bị cáo:

Đặng Quang T, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1982 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số 7/32/161 P, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Quang T và bà Đặng Thị T (đều đã chết); có vợ là Lê Thị M (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 11/02/2020,tạm giam14/02/2020; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 05 phút ngày 10/02/2020, tổ công tác thuộc Tiểu đoàn Cảnh sát cơ động - PK02- Công an thành phố Hải Phòng trong khi làm nhiệm vụ tại khu vực ngã ba đường Thuyết - NVL, phường D, quận L, Hải Phòng đã phát hiện Đặng Quang Tcó hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, thu giữtại ví da màu đen trong túi quần sau bên phải của T 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, 01 căn cước công dân mang tên Đặng Quang T; thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng; ngoài ra, còn thu giữ 01 xe máy biển kiểm soát 29R5-3414. Sau đó đã đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 61/KLGĐ ngày 13/02/2020 của Phòng Kĩ thuật hình sự - Công an TP Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon thu giữ của T có khối lượng 0,57 gam là loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Quang T khai: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/02/2020, T điều khiển xe máy chở Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1994, trú tại: Ấp C, Vĩnh Lộc B, H, Bạc Liêu đi chơi. Trên đường đi, T nảy sinh ýđịnh mua ma túy về sử dụng. T điều khiển xe đến khu vực chắn tàu đường C thì dừng xe và bảo N ngồi đợi. T đi bộ vào hành lang đường tàu hướng ra đường M khoảng 40-50 mét thì gặp và mua của người phụ nữ không quen biết 01 túi nilon chứa ma túy đá với giá 300.000 đồng. T cầm số ma túy vừa mua được đi sang hành lang đường tàu đối diện lấy ra một ít sử dụng. Sau đó, T nhặt 01 vỏ túi nilon ở dưới đất rồi chia một ít ma túy vào túi nilon này. T cất giấu 02 túi nilon ma túy vào ví da màu đen rồi cất ở trong túi quần sau phía bên phải vàđi bộ ra chỗ N đứng đợi. T không nói cho N biết việc mua và cất giấu ma túy trong người. Sau đó, T chở N đi chơi đến khu vực ngã ba đường Thuyết - NVL thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt giữ.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Mỹ N khai nhận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/02/2020 T rủ N đi chơi, khi đến khu vực chắn tàu đường Cầu Đất thìT dừng xe và bảo N ngồi đợi. T đi bộ vào hành lang đường tàu một lúc thì đi ra chở N, khi đến khu vực ngã ba đường Thuyết - NVL thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ. N không biết việc T đi mua ma túy và cất giấu ma túy trong người.

TạiCáo trạng số 91/CT-VKS ngày 18 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát N dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Đặng Quang T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm ckhoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249,điểms khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Quang T mức án từ 18đến 24 tháng tùvề tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại sau giám định và 01 ví da màu đen thu giữ của bị cáo.

Trả lại bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Đặng Quang T;

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện kiểm sát N dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng, báo cáo bắt giữ, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào hồi 22 giờ 05 phút ngày 10/02/2020, tại khu vực ngã ba Đường Thuyết - NVL, phường DHK, quận Lê Chân, Hải Phòng, Đặng Quang T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,57g (không phẩy năm bảy gam) Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Quang Tphạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, làm suy thoái đạo đức, lối sống, là nguyên N làm phát sinh những tội phạm khác.Methamphetamine là chất ma tuýđộc hại do Nhà nước quản lý, được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo yêu cầu điều trị, nhưng để thoả mãn nhu cầucủa mình bị cáo đã bất chấp pháp luật, cất giữ trái phép để sử dụng, tội phạm bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và quyết tâm phạm tội cao. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

N thân bị cáo chưa tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạmtội của mìnhnên cần xem xét áp dụng điểms khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Số ma tuý mà cơ quan Công an thu giữ khi bắt giữ bị cáo, sau khi lấy đi giám định, lượng còn lại xét là vật Nhà nước cấm lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 ví da màu đen thu giữ của bị cáo, xét là vật không còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động OPPO, quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tộinên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 căn cước công dân mang tên Đặng Quang T, là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo sử dụng;

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 29R5 - 3414, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục lưu giữ, điều tra xử lý sau.

- Về các vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Thị Mỹ N đi cùng Đặng Quang T; do N không biết việc T mua và cất giấu ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không xử lý.

Đối với người nữ giới bán ma túy cho T ngày 10/02/2020, do không xác định được căn cước, lai lịch nên không có cơ sở để điều tra.

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểms khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đặng Quang T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 11 tháng 02 năm 2020.

Về xử lý tang vật: Căn cứ điểmc khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm akhoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 ví da màu đen và 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói;

Trả lại bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Đặng Quang T;

Tiếp tục tạm giữ 01 di động nhãn hiệu OPPO có số Imei 1: 867764025874515, Imei 2: và 867764025874507 của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

(Theo đúng Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 20 tháng 5 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ