vanban.org

Bản án 88/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 21/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyªn bè: BÞ cáo Vũ Xuân H ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249, ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51, Điều 50 và ĐiÒu 38 Bộ luật hình sự. Xử ph¹t bị cáo H 02 (hai) năm tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 24-6-2020. VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vũ Xuân H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyªn bè: BÞ cáo Vũ Xuân H ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2020/HS-ST
Ngày 21-9-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đắc Nghị

2. Bà Trần Thị Nơi

- Thư ký phiên toà: Bà Doãn Thị Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Vũ Xuân H, sinh năm1994; Nơi cư trú: Thôn Th, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Kh và bà Nguyễn Thị Đ; tiền sự: Năm 2017 đi cai nghiện bắt buộc đến năm 2019 chấp hành xong về địa phương sinh sống; tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/6/2020, đến ngày 27/6/2020 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình “có mặt”.

Những người làm chứng:

1. Anh Phạm Quang M, sinh năm 1980 (vắng mặt). Trú tại: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình

2. Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1981 (vắng mặt). Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ ngày 24/6/2020, tại đoạn đường liên thôn thuộc Thôn V, xã H, huyện H, Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang Vũ Xuân H có hành vi cất giấu tại lòng bàn tay trái 02 (hai) gói ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1130 gam, mục đích để sử dụng. Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã thu giữ, quản lý và niêm phong 02 (hai) gói ma túy trên trước sự chứng kiến của những người làm chứng. Ngoài ra, còn quản lý của Vũ Xuân H 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn H Samsung màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân mang tên Vũ Xuân H. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Xuân H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Bản kết luận giám định số 251/KLGĐ- PC09 ngày 26-6-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,1130 gam (không phẩy một nghìn một trăm ba mươi gam).

Bản cáo trạng số 89/CT- VKSHH ngày 07-9-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H; Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì số 251/KLGĐ- PC09 còn nguyên niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn H Samsung màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân mang tên Vũ Xuân H. Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo H không tranh luận gì và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của BLTTHS.

Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục từ số 31 đến số 34); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do (Bút lục số 35); bản kết luận giám định số 251/KLGĐ- PC09 ngày 26-6-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (Bút lục số 48); biên bản ghi lời khai của những người làm chứng: anh Phạm Quang M và anh Nguyễn Văn G (Bút lục từ số 77 đến số 84). Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 18 giờ ngày 24-6-2020, tại đoạn đường liên thôn thuộc địa phận Thôn V, xã H, huyện H Vũ Xuân H, sinh ngày 04/12/1994, nơi cư trú: Thôn Th, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1130 gam (Không phẩy một nghìn một trăm ba mươi gam) ma túy, loại Heroine (Hêrôin), mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) …

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d)…

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, làm suy kiệt kinh tế gia đình, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác gây mất trật tự xã hội. Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán…trái phép chất ma túy, nhưng do mắc nghiện ma túy nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Bị c¸o không bÞ ¸p dông t×nh tiÕt t¨ng nÆng tr¸ch nhiÖm h×nh sù nào theo quy ®Þnh t¹i ĐiÒu 52 BLHS, bị cáo có nhân thân xấu có 01 tiền sự. Vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và t¹i phiªn toµ bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Bị cáo mắc nghiện ma túy, mục đích tàng trữ trái phép ma túy là để sử dụng cho bản thân, không có thu nhập, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy, Vũ Xuân H khai: Ngày 24-6-2020, H gặp và mua của người đàn ông khoảng 30 tuổi, không rõ tên, tuổi địa chỉ tại khu vực T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho H nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng: 0,0884 gam (Không phẩy không nghìn tám trăm tám mươi tư gam) ma túy, loại heroin còn lại sau giám định thu của bị cáo H trong phong bì còn nguyên niêm phong số 251/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật cấm lưu hành, cần tịch thu để tiêu huỷ. 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân mang tên Vũ Xuân H là tài sản của bị cáo không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho bị cáo.

Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyªn bè: BÞ cáo Vũ Xuân H ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

2. ¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249, ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51, Điều 50 và ĐiÒu 38 Bộ luật hình sự. Xử ph¹t bị cáo H 02 (hai) năm tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 24-6-2020.

3. VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

3.1 Tịch thu để tiêu huỷ: 0,0884 gam (Không phẩy không nghìn tám trăm tám mươi tư gam) ma túy, loại heroin còn lại sau giám định thu của bị cáo H trong phong bì còn nguyên niêm phong số 251/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

3.2 Trả lại bị cáo H 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn H Samsung màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân mang tên Vũ Xuân H (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

4. VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, bÞ c¸o H ph¶i nộp 200.000 đồng tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.

5. BÞ c¸o H cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.

* Nơi nhận:

Cỡ chữ