- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Bùi Duy H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2019/HSST Ngày: 20/8/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Văn Hộ
2. Ông Đỗ Đức Dũng
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Ma Ngọc Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2019/HSST ngày 23 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Duy H; Giới tính: nam; Tên gọi khác: không có; Sinh ngày: 05/8/1963; Nơi sinh: huyện N, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú: tổ H, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không nghề; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Bùi Duy T (đã chết); con bà: Vy Thị T (Vi Thị T), sinh năm 1934, HKTT: tổ H, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Anh, chị, em ruột: có 05 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình; Vợ: Trương Thị N, sinh năm 1968, trú tại tổ H, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Con: có 01 con sinh năm 1994; Tiền sự: không; Tiền án: không.
Nhân thân:
- Ngày 09/11/1995 bị Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy.
- Ngày 23/10/2003 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt ngày 21/4/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 20 ngày 21 tháng 4 năm 2019 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với người, chỗ ở tại tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng của Trương Thị N (sinh năm 1968, trú tại: tổ H, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng). Hồi 08 giờ 30 phút cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã tiến hành hành khám xét và phát hiện, bắt quả tang chồng của N tên là Bùi Duy H (sinh năm 1963, hộ khẩu thường trú: tổ H, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; chỗ ở hiện nay: tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm 01 (một) gói nhỏ bằng giấy trắng có in chữ bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục lẫn bột có khối lượng 0,63 gam (không phảy sáu mươi ba gam) được phát hiện và thu giữ trong túi quần bên phải phía trước H đang mặc; 02 (hai) xi lanh kim tiêm loại 3ml đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động mặt sau có chữ OPPO màu hồng có số IMEI 1: 861216034891751, số IMEI 2: 861216034897744; 01 (một) điện thoại di động mặt sau có chữ Masstel màu xám đã hỏng bật không lên nguồn.
Ngày 03 tháng 5 năm 2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã tiến hành trưng cầu giám định đối với số vật chứng thu giữ được của Bùi Duy H. Tại bản kết luận giám định số 138/GĐMT ngày 15 tháng 5 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine”.
Quá trình điều tra, Bùi Duy H khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Do bản thân sử dụng và lệ thuộc vào chất ma túy nên khoảng 20 giờ ngày 20 tháng 4 năm 2019, Bùi Duy H đã một mình đi bộ từ chỗ ở tại tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng đến khu vực Cửa hàng FPTShop.com.vn, địa chỉ số 44-46, Ngã tư cầu S, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây H đã gặp và mua được 01 (một) gói ma túy được gói bằng giấy trắng với một người đàn ông khoảng 40 tuổi H không biết tên và địa chỉ với số tiền là 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Mua được ma túy H quay trở về chỗ ở tại tổ B, phường S và bớt lấy một phần nhỏ ma túy từ gói ma túy vừa mới mua được ra để sử dụng cho bản thân bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể. Số ma túy còn lại H gói lại và cho vào trong túi quần mang theo trong người để sử dụng dần. Đến 08 giờ 30 phút ngày 21 tháng 4 năm 2019 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng tiến hành khám xét chỗ ở đối với vợ H tên là Trương Thị N vì có liên quan đến hành vi đánh bạc. Quá trình khám xét đã phát hiện và bắt quả tang H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ toàn bộ số vật chứng nêu trên.
Hành vi của bị cáo Bùi Duy H đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại bản Cáo trạng số 72/CT-VKSTP ngày 22/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Bùi Duy H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Duy H thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo nhất trí với kết quả cân xác định khối lượng tang vật chất bột màu trắng ngà dạng cục lẫn bột thu giữ được của bị cáo và nhất trí với nội dung bản kết luận giám định số 138/GĐMT ngày 15/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng. Về vật chứng của vụ án, bị cáo đề nghị trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động mặt sau có chữ OPPO màu hồng và 01 (một) điện thoại di động mặt sau có chữ Masstel vì không liên quan đến hành vi phạm tội, còn những vật chứng còn lại bị cáo không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Bùi Duy H và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Bùi Duy H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Duy H mức án từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: đề nghị xử tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong tang vật ghi vụ: Bùi Duy H; 01 (một) phong bì niêm phong 02 (hai) xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động màu xám, mặt sau có chữ Masste và 01 (một) điện thoại di động mặt sau có chữ OPPO màu hồng.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Do bản thân sử dụng và lệ thuộc vào chất ma túy, nên khoảng 20 giờ ngày 20 tháng 4 năm 2019, Bùi Duy H đã một mình đi bộ từ chỗ ở tại tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng đến khu vực Cửa hàng FPTShop.com.vn, địa chỉ số 44-46, Ngã tư cầu S, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây H đã gặp và mua được 01 (một) gói ma túy được gói bằng giấy trắng với một người đàn ông khoảng 40 tuổi H không biết tên và địa chỉ với số tiền là 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Mua được ma túy H quay trở lại chỗ ở tại tổ B, phường S và bớt lấy một phần nhỏ ma túy từ gói ma túy vừa mới mua được ra để sử dụng cho bản thân bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể. Số ma túy còn lại H gói lại và cho vào trong túi quần mang theo trong người để sử dụng dần cho bản thân. Đến 08 giờ 30 phút ngày 21 tháng 4 năm 2019 thì bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng phát hiện và bắt qua tang H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và gây ra tâm lý hoang mang lo ngại trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có trình độ học vấn lớp 12/12 phổ thông, là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Với khối lượng ma túy bị thu giữ là 0,63 gam, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo có 02 tiền án đã được xóa án tích. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là "Người phạm tội thành khẩn khai báo" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là Bùi Duy T và mẹ đẻ là Vi Thị T đều được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo hoàn toàn phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của cáo nên cần được chấp nhận. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Ngoài hình phạt chính, theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy bị cáo là con nghiện, không nghề nghiệp, do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trong vụ án này, về nguồn gốc số ma túy Bùi Duy H khai mua với một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên và địa chỉ cụ thể tại khu vực Cửa hàng FPTShop.com.vn, địa chỉ số 44-46, Ngã tư cầu S, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Do không có đủ thông tin nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng không thể tiến hành xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng và tài sản:
Đối với vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy, gồm có:
- 01 (một) phong bì niêm phong tang vật ghi vụ: Bùi Duy H - sinh năm 1963; HKTT: tổ H, phường H, thành phố C; chỗ ở: tổ B, phường S, thành phố C. Hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- 01 (một) phong bì niêm phong 02 (hai) xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo tài sản do không liên quan đến hành vi phạm tội:
- 01 (một) phong bì niêm phong điện thoại di động màu xám, mặt sau có chữ Masste, điện thoại đã cũ, không có sim bên trong.
- 01 (một) phong bì niêm phong điện thoại di động màu hồng mặt sau có chữ OPPO, có số IMEI 1: 861216034891751, IMEI 2: 861216034897744.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Bùi Duy H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt: bị cáo Bùi Duy H 14 (mười bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 21/4/2019.
2. Về xử lý vật chứng và tài sản:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) phong bì niêm phong tang vật ghi vụ: Bùi Duy H - sinh năm 1963; HKTT: tổ H, phường H, thành phố C; chỗ ở: tổ B, phường S, thành phố C. Hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
+ 01 (một) phong bì niêm phong 02 (hai) xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo:
- 01 (một) phong bì niêm phong điện thoại di động màu xám, mặt sau có chữ Masste, điện thoại đã cũ, không có sim bên trong.
- 01 (một) phong bì niêm phong điện thoại di động màu hồng, mặt sau có chữ OPPO, có số IMEI 1: 861216034891751, IMEI 2: 861216034897744.
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/7/2019.
3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử buộc bị cáo Bùi Duy H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Sở tư pháp; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Công an TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Hoài Phƣơng |