- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2019/HSST Ngày: 27/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Thắng
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Uông Thị Hoa
Bà Đỗ Thị Sỹ Long
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 27/5/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2019/HSST ngày 24/4/2019 đối với bị cáo: Nguyễn Thị T; Sinh năm: 1978; HKTT và nơi ở: thôn T, xã V, huyện X, Hà Nội. Nghề nghiệp: không; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Khoa H – sinh năm: 1944; Con bà: Nguyễn Thị B (đã chết); Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con út; Họ và tên chồng: Nguyễn Văn Đ – sinh năm: 1976; Bị cáo có 01 con 16 tuổi. Tiền án: 01 tiền án: Ngày 11/01/2016, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử phạt 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ra trại ngày 21/9/2016. Tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/11/2018, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 16/11/2018, tại khu vực trước địa chỉ số 60 Trần Phú, phường Điện Biên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Công an quận Ba Đình phát hiện Nguyễn Thị T đang đứng cùng 01 nam thanh niên, do có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Trong quá trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện thấy trong lòng bàn tay trái của T có 01 gói giấy ăn màu trắng, bên trong có 02 túi nilon màu trắng đều chứa tinh thể màu trắng, T khai là ma túy “đá” đang bán cho nam thanh niên. Tổ công tác đã thu giữ vật chứng và số tiền 500.000 đồng, là tiền T vừa nhận của nam thanh niên mua ma túy và đưa T về trụ sở để giải quyết.
Tổ công tác đã thu giữ: 02 gói nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 túi xách màu đen, bên trong có 01 gói giấy ăn màu trắng bên trong có 02 gói nilon trắng chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung J7 màu đen; 01xe máy Honda Airblade BKS; 29C1-652.82 và tiền Việt Nam trị giá: 635.000 đồng.
Kết luận giám định số 8771/KLGĐ-PC09 ngày 22/11/2019 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hà Nội xác định: “Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilong (thu giữ trong lòng bàn tay Nguyễn Thị T) đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,763 gam; Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilong (thu giữ trong túi xách của Nguyễn Thị T) đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng:0,777 gam”.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị T đã khai nhận như sau: Tối ngày 15/11/2018, tại đầu ngõ L, phường T, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, T mua 04 túi nilon ma túy “đá” của một người đàn ông không quen biết hết 800.000 đồng, mục đích để bán lại cho đối tượng nghiện kiếm lời. Khoảng 16 giờ ngày 16/11/2018, có người đàn ông tự xưng là Q (không rõ địa chỉ nơi ở) gọi điện thoại từ số 0919591432 đến số điện thoại 0946112668 của T, hỏi mua 02 túi ma túy “đá” giá 500.000 đồng. T đồng ý và hẹn giao ma túy tại cổng bệnh viện Xanh Phôn, phố Trần Phú, phường Điện Biên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Sau đó, T điều khiển xe máy Honda Airblade BKS 29C1-652.82, đem theo 04 gói ma túy mới mua được tối hôm trước, 02 túi T cầm sẵn ở tay để giao cho người mua. Đến nơi hẹn, T vừa nhận tiền, chưa kịp giao ma túy thì bị Công an bắt quả tang, đối tượng mua ma túy tên Q chạy thoát.
Về nguồn gốc số ma túy và người mua ma túy, T khai không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý.
Đối với chiếc xe máy Honda Airblade BKS: 29C1-652.82 (SK: 185069, SM: 1539158), T khai trước ngày bị bắt T có mượn của người bạn tên T (không rõ địa chỉ nơi ở). Quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu xe nên cơ quan điều tra đã tách tài liệu liên quan đến chiếc xe máy để điều tra giải quyết sau.
Tại cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 11 tháng 4 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố bị cáo T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội mua bán trái phép chất ma túy như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo T mức án từ 26 tháng đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy số ma túy và 01 túi xách giả da màu đen đã thu giữ của bị cáo; Tịch thu, sung công quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 (Imei 1: 353236070768646/01, Imei 2; 353237070768644/01) đã qua sử dụng và 635.000 đồng tiền Việt Nam là tài sản cá nhân, đã thu giữ của bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, biên bản niêm phong tang vật, kết luận giám định và phù hợp với các biên bản, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố bị cáo về hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án.
Những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 16/11/2018, tại khu vực trước địa chỉ số 60 Trần Phú, phường Điện Biên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị T đã có hành vi bán trái phép 0,763 gam ma túy loại Methamphetamine cho người đàn ông tên Q (không rõ địa chỉ nơi ở), bị công an quận Ba Đình bắt quả tang. Ngoài số ma túy bị thu giữ, T còn bị thu giữ trong túi xách 02 túi nilon chứa ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,777 gam, mục đích để bán kiếm lời.
Hành vi phạm tội của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là chất gây nguy hại cho con người và cho xã hội, nó làm tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người, làm tan vỡ nhiều hạnh phúc gia đình; đồng thời chính hành vi bán ma túy của bị cáo đã tiếp tay cho các đối tượng nghiện ma túy gây ra nhiều hệ quả rất xấu cho xã hội và còn là mầm mống cho các loại tội phạm khác, như tội trộm cắp, tội cướp, cướp giật... Do vậy, nhà nước thống nhất quản lý và có chính sách tuyên truyền rộng khắp trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người phòng tránh. Vì vậy đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi lượng hình phạt: Bị cáo đã có 01 tiền án đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, nên để cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo T không có nghề nghiệp ổn định nên xét không áp dụng phạt tiền làm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án đã bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình gồm: 01 bao niêm phong trong có ma túy loại Methamphetamine trọng lượng 0,763 gam đã qua giám định, có chữ ký của giám định viên và bị cáo T; 01 bao niêm phong trong có ma túy loại Methamphetamine trọng lượng 0,777 gam đã qua giám định, có chữ ký của giám định viên và bị cáo T; 01 túi xách giả da màu đen đã qua sử dụng là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Tịch thu, sung công quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 (Imei 1: 353236070768646/01, Imei 2; 353237070768644/01) đã qua sử dụng và 635.000 đồng tiền Việt Nam là tài sản cá nhân, đã thu giữ của bị cáo theo Điều 47, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015;
Căn cứ khoản 2 điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Xử phạt: Nguyễn Thị T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy“, thời hạn tù được tính từ ngày 16/11/2018.
Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong bên trong chứa 1,54 gam Methamphetamine đã qua giám định, có chữ ký của giám định và Nguyễn Thị T01 túi xách giả da màu đen đã qua sử dụng biên bản giao vật chứng số: 100/CSĐT ngày 23 tháng 4 năm 2019. Tịch thu, sung công quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 (Imei 1: 353236070768646/01, Imei 2; 353237070768644/01) đã qua sử dụng dụng biên bản giao vật chứng số: 100/CSĐT ngày 23 tháng 4 năm 2019 và 635.000 đồng tiền Việt Nam là tài sản cá nhân, đã thu giữ của bị cáo theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 23/4/2019 vào tài khoản của chi cục Thi hành án quận Ba Đình.
Bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TANDTP Hà Nội; - VKS nhân dân quận Ba Đình; - Chi cục THA quận Ba Đình; - Bị cáo; - Lưu VP, hồ sơ./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Xuân Thắng |