- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn Đ, Lƣờng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? luật giám định; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 88/2019/HSST Ngày 20-8-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đèo Văn Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lƣơng Văn Vịnh, ông Lò Văn Viễn.
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2019 tại trụ Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:68/2019/HSST ngày 27 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 82/2019/HSST-QĐ ngày 09 tháng 8 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Quàng Văn Đ (tên gọi khác: Không), sinh năm 1964. Nơi sinh tại Sông Mã - Sơn La.
Nơi ở và ĐKHKTT: Bản T, xã NN, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không. Con ông: Quàng Văn K (đã chết); con bà Mòng Thị S; Sống chung nhƣ vợ chồng với bà Lò Thị V, có 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1990. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 11/12/2003 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số: 90 /2003/HSST ngày 11/12/2003.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/3/2019 cho đến nay có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Lường Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20/3/1987. Nơi sinh Sông Mã - Sơn La.
Nơi ở và ĐKHKTT: Bản P, xã NN, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Xinh mun; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không. Con ông: Lƣờng Văn P (đã chết); con bà Tòng Thị K, vợ Lò Thị S và có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh 2009. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/3/2019 cho đến nay có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 09 giờ 20 phút ngày 18/3/2019 tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Công an xã NN làm nhiệm vụ tại khu vực bản P, xã NN phát hiện Quàng Văn Đ và Lƣờng Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại túi quần bên phải của Đ 01 cục bột liên kết màu trắng, T đã tự nguyện giao nộp 01 cục bột liên kết màu trắng (Đ và T khai nhận là Heroine). Tổ công tác đã lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng thu giữ.
Ngày 18/3/2019 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lƣợng lấy mẫu giám định, xác định: số chất bột màu trắng thu của Quàng Văn Đ có khối lƣợng 0,09 gam, trích toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu Đ1; Số chất bột màu trắng thu của Lƣờng Văn T có khối lƣợng 0,11gam, trích toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu T1. Tại kết luật giám định số 642 ngày 22/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu Đ1, T1 là ma túy; loại Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,20 gam loại Heroine”
Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Quàng Văn Đ có tình cảm nam nữ với mẹ đẻ của Lƣờng Văn T nên thƣờng xuyên đến nhà T chơi, tại đây thỉnh thoảng Đ có sử dụng Heroine nên T nhìn thấy và xin sử dụng cùng vài lần.
Khoảng tháng 02 năm 2019, khi Đ đi nhổ sắn thuê tại bản BP, xã NN, huyện Sông Mã thì Đ hỏi mua đƣợc của một ngƣời đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T đến gặp Đ xin ma túy về sử dụng, Đ lấy ra 01 phần nhỏ trong số Heroine vừa mua đƣợc đƣa cho T. T về nhà trích một phần nhỏ Heroine đã xin đƣợc của Đ ra sử dụng, còn lại T cất ở trong hòm bằng kim loại đặt dƣới chân giƣờng ngủ và bỏ quên không mang ra sử dụng nữa.
Chiều ngày 15/3/2019, Đ tiếp tục mua đƣợc 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng của ngƣời không quen biết tại bản Bom Phung, xã NN. Khoảng 18 giờ ngày 17/3/2019 Đ mang theo cục Heroine đã mua đƣợc ngày 15/3/2019 đến nhà T chơi và ngủ qua đêm tại nhà T. Đến khoảng 09 giờ, ngày 18/3/2019 thì bị Đ và T phát hiện bắt quả tang tại nhà T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ vật chứng nhƣ đã nêu trên.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của T khai nhận là do đƣợc Đ cho trƣớc đó; số ma túy thu của Đ, Đ khai mua đƣợc của một ngƣời đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại bản BP, xã NN vào tháng 02/2019 và ngày 15/3/2019. Quá trình điều tra do Đ không biết tên, tuổi cụ thể nên không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
Do các hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số 68/CT-VKSSM ngày 26 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố các bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và điều luật viện dẫn áp dụng đối với các bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Quàng Văn Đ và Lƣờng Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy;
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Quàng Văn Đ từ 16 đến 20 tháng tù, Lƣờng Văn T từ 14 đến 18 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm. Xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa khi đƣợc nói lời sau cùng các bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của các bị cáo đƣợc chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang lập hồi 09 giờ 30 phút ngày 18/3/2019 tại bản P, xã NN, huyện Sông Mã đối với Quàng Văn Đ và Lƣờng Văn T cùng vật chứng thu giữ 02 cục bột liên kết màu trắng ngà.
- Biên bản mở niên phong, xác định khối lƣợng, lấy mẫu giám định, niêm phong vật chứng hồi 10 giờ 30 phút ngày 19/3/2019; Kết luật giám định số 642 ngày 22/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La: xác định số chất bột màu trắng thu giữ trong vụ án là Heroine và có tổng trọng lƣợng là 0,20 gam.
- Lời khai của Lƣờng Văn T và Quàng Văn Đ xác nhận số Heroine thu giữ của T có khối lƣợng 0,11 gam là do Quàng Văn Đ cho T để sử dụng.
- Lời khai nhận tội của các bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm.
Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, các bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai nhƣ đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc các bị cáo đã thực hiện. Nhƣ vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng tháng 02/2019 và ngày 15/3/2019 Quàng Văn Đ đã có hành vi mua Heroine về để sử dụng, khi đang cất giấu 0,09 gam Heroine thì bị phát hiện bắt quả tang. Trƣớc đó, vào khoảng tháng 2/2019 Đ đã cho Lƣờng Văn T Heroine để T sử dụng, do chƣa sử dụng hết T đem cất giấu thì bị phát hiện, số Heroine bị thu giữ có khối lƣợng là 0,11 gam. Do vậy, Quàng Văn Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về số Heroine đã thu giữ của Đ và cả số Heroine thu giữ của T, có tổng khối lƣợng là 0,20 gam; Lƣờng Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự với số Heroine đã tàng trữ có khối lƣợng là 0,11 gam.
Hành vi của Quàng Văn Đ, Lƣờng Văn T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Các bị cáo có nhân thân xấu: đều là ngƣời nghiện ma túy, riêng bị cáo Đ đã từng có 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhƣng sau khi cải tạo chở về địa phƣơng bị cáo không tu chí làm ăn lƣơng thiện mà vẫn tiếp tục phạm tội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, các bị cáo nhận thức đƣợc việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhƣng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nƣớc, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hƣởng đến trật tự trị an ở địa phƣơng, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Quàng Văn Đ là ngƣời bỏ tiền ra và đi mua ma túy, sau khi mua đƣợc ma túy đã cho bị cáo T để sử dụng. Sau khi nhận ma túy từ Đ, T đã mang về sử dụng, số còn lại đem cất giấu nên phạm tội với vai trò đồng phạm. Cần áp dụng Điều 58 BLHS khi quyết định hình phạt. Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, khối lƣợng ma túy các bị cáo tàng trữ, vai trò của các bị cáo để quyết định một mức án phù hợp với từng bị cáo nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục các bị cáo thành ngƣời có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phƣơng.
Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã làm rõ gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy thu trong vụ án: Đ khai các lần đều mua của ngƣời đàn ông không quen biết, không rõ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, mở rộng vụ án là đúng quy định của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án: 02 túi nilon màu trắng cùng 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thuộc dân tộc thiểu số, cƣ trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biết khó khăn, bị cáo Lƣờng Văn T thuộc gia định hộ nghèo và tại phiên tòa các bị cáo đề nghị HĐXX xin đƣợc miễn án phí nên cần miễn án phí cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn Đ, Lƣờng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
- Bị cáo Quàng Văn Đ 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 18/3/2019).
- Bị cáo Lƣờng Văn T 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 18/3/2019).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 túi nilon màu trắng cùng 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
(Tang vật đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La theo biên bản giao nhận vật chứng, ngày 02 tháng 7 năm 2019).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14.
Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Quàng Văn Đ, Lƣờng Văn T.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sông Mã; - Công an huyện Sông Mã; - THAHS + DS; - STP tỉnh; - Bị cáo; - Chánh án; - Lƣu hồ sơ; - Lƣu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – chủ tọa phiên toà Đã ký Đèo Văn Quỳnh |