vanban.org

Bản án 88/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 04/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Thanh H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/4/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu huỷ; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2019/HS-ST
Ngày: 04/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Bảo Huyền Trân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Quyết

2. Ông Phạm Thuận

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Lê Vũ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2019/TLST-HS ngày 7 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2019/QĐXXST–HS ngày 22 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

TRẦN THỊ THANH H, tên gọi khác: B.

Sinh năm 1992 tại Đà Nẵng.

Nơi cư trú: Tổ 1x, phường H, quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 11/12.

Nghề nghiệp: Lao động phổ thông.

Con ông: Trần Đình T (chết) và bà Phạm Thị Qúy H (sinh năm: 1958). Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án: Bản án số 79/2016/HSST ngày 09/8/2016 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng xử phạt 36 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999.

Tiền sự: Chưa.

Bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/4/2019. Có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Trần Văn T, sinh năm 1991, trú tại: Tổ x, phường V, quận K, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).

2/ Bà Thân Thị H, sinh năm 1990, trú tại: Thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 18/4/2019, Trần Thị Thanh H gặp và mua của một nam thanh niên tên Tùng một gói ma túy đá với giá 1.700.000đ tại đường Bùi Tấn Diên, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng rồi Huyền đem về cất giấu tại phòng 301 nhà nghỉ Bảo Trân ở địa chỉ số 19 An Xuân, phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để sử dụng.

Đến khoảng 12 giờ ngày 25/4/2019, Trần Văn T đến phòng 301 nhà nghỉ Bảo Trân, sử dụng ma túy cùng với H và một người đàn ông tên là C. Sau đó, H, T, C và một người bạn của H tên là Thân Thị H cùng đi hát karaoke tại quán Bảo Trân, địa chỉ số 16 An Xuân, phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, ngồi chơi một lát thì người đàn ông tên C về trước. Lúc 15 giờ 40 phút cùng ngày, Công an phường An Khê đến kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ Bảo Trân, phát hiện phòng 301 do Trần Thị Thanh H đang lưu trú có biểu hiện nghi vấn nên mời H về làm việc. Tiến hành kiểm tra phòng 301, thu giữ bên trong tủ gỗ quần áo có 01 gói nylong kích thước 04cm x 08cm chứa tinh thể màu trắng (được niêm phong kí hiệu là G).

* Bản Kết luận giám định số: 129/GĐ-MT ngày 03/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu G gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng tinh thể G: 0,279 gam.

* Vật chứng tạm giữ:

- 01 bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số: 129/GĐ-MT ngày 03/5/2019, có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng.

- 01 bình nhựa có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút, 02 bật lửa

- 01 điện thoại di động có chữ Lamborghini màu vàng, số Imei: 355629066053106

- 01 điện thoại di động có chữ Microsoft màu xanh, số Imei: 357819060119791

Kết quả thử nước tiểu: Trần Thị Thanh H, Trần Văn T và Thân Thị H dương tính với chất ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 98/CT-VKSTK ngày 06/8/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Trần Thị Thanh H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Trần Thị Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Trần Thị Thanh H mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

- Tịch thu tiêu hủy: mẫu vật ma túy hoàn trả sáu giám định được niêm phong trong 01 bì niêm phong số 129/GĐ-MT ngày 03/5/2019 có đóng dấu giáp lai của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng; 01 bình nhựa có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút, 02 bật lửa.

- Trả lại cho bị cáo Huyền : 01 điện thoại di động có chữ Lamborghini màu vàng, số Imei: 355629066053106 và 01 điện thoại di động có chữ Microsoft màu xanh, số Imei: 357819060119791.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thật sự biết ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và rất hối hận, mong xem Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Thị Thanh H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 15 giờ 40 phút ngày 25/4/2019 tại phòng 301 nhà nghỉ Bảo Trân ở địa chỉ số 19 An Xuân, phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Công an phường An Khê phát hiện, bắt quả tang Trần Thị Thanh H đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,279 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.

Tại Bản Kết luận giám định số: 129/GĐ-MT ngày 03/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu G gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng tinh thể G: 0,279 gam.

Do đó, hành vi trên của bị cáo Trần Thị Thanh H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Huyền phải chịu trách nhiệm hình sự thuộc tình tiết định khung là “Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 98/CT-VKSTK ngày 06/8/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo nhận thức rõ tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để thỏa mãn nhu cầu bản thân nên bị cáo đã lao vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm lan tràn tệ nạn ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và xâm phạm sức khoẻ cũng như sự phát triển bình thường giống nòi của dân tộc, đã làm cho một bộ phận thanh thiếu niên suy đồi phẩm chất, lối sống. Đây là loại tội phạm gây nguy hại lớn, bởi đó là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tệ nạn xã hội, là mầm mống phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Chính tác hại đó mà pháp luật nghiêm cấm và nghiêm khắc trừng trị loại tội phạm này. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm mới có đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo có tiền án: Ngày 09/8/2016 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng xử phạt 36 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999. Trong thời gian chưa được xóa án tích, bị cáo tiếp tục phạm tội , do đó lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh và áp dụng các điều luật cũng như đề nghị mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với mẫu vật ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 bì niêm phong số 129/GĐ-MT ngày 03/5/2019 có đóng dấu giáp lai của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng. Hội đồng xét xử thấy đây là vật cấm lưu hành nên cần áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu huỷ.

- Đối với 01 bình nhựa có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút, 02 bật lửa đã qua sử dụng, Hội đồng xét xử xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu huỷ.

- Đối với 01 Điện thoại di động có chữ Lamborghini màu vàng, số Imei: 355629066053106 là tài sản của bị cáo H, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo H.

- Đối với 01 điện thoại di động có chữ Microsoft màu xanh, số Imei: 357819060119791 là tài sản của bị cáo H, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo H.

Đối với đối tượng tên Tùng đã bán ma túy cho H và đối tượng tên Cu sử dụng ma túy cùng với H hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Đối với Trần Văn T và Thân Thị H không biết việc Huyền cất giấu ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê không đề cập là có cơ sở.

Đối với nhà nghỉ Bảo Trân do bà Trương Thị Lệ T làm chủ đã có hành vi “Người chủ hoặc người có trách nhiệm quản lý cơ sở cho thuê lưu trú để cho người khác lợi dụng sử dụng chất ma túy trong khu vực mình quản lý” và “Cơ sở kinh doanh lưu trú không thực hiện việc thông báo lưu trú với cơ quan công an theo quy định khi có người đến lưu trú” theo điểm a khoản 4 Điều 21 và điểm d khoản 2 Điều 8 Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP. Ngày 19/6/2019, UBND quận Thanh Khê ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 2057/QĐ-XPVPHC về các hành vi trên, Hội đồng xét xử thấy phù hợp .

Ngoài ra, Trần Thị Thanh H, Trần Văn T và Thân Thị H còn có hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” nên Công an quận Thanh Khê đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là thỏa đáng.

Án phí HSST: Bị cáo Trần Thị Thanh H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Thanh H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/4/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: mẫu vật ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 bì niêm phong số 129/GĐ-MT ngày 03/5/2019 có đóng dấu giáp lai của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng; 01 bình nhựa có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút, 02 bật lửa.

- Trả lại cho bị cáo H : 01 điện thoại di động có chữ Lamborghini màu vàng, số Imei: 355629066053106 và 01 điện thoại di động có chữ Microsoft màu xanh, số Imei: 357819060119791.

(Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 8 năm 2019).

3. Án phí HSST: Bị cáo Trần Thị Thanh H phải chịu 200.000đ.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ