- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Mạnh T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2018/HSST Ngày: 14/11/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Kiến
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Bùi Thị Á Khanh
+ Ông Nguyễn Hạ T
-Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2018/HSST ngày 19/10/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2018/QĐXXST-HS ngày 02/11/2018 đối với bị cáo: Lê Mạnh T - sinh năm 1985; Nơi sinh và nơi cư trú: thôn H, xã ĐT, huyện MĐ, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình L và bà Mai Thị L1; có vợ Phạm Thị B – sinh năm 1990 và 02 con (lớn SN 2012, nhỏ SN 2013); tiền sự: không; tiền án: + Ngày 17/10/2008 bị Tòa án nhân dân TP. Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia và tội Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 10/8/2011; + Ngày 28/5/2014 bị Tòa án nhân dân huyện MĐ, TP. Hà Nội xử phạt 48 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 07/7/2017. Bị bắt, tạm giam giữ từ ngày 16/8/2018 đến nay. Có mặt theo lệnh trích xuất. * Người làm chứng: - Dương Văn H – sinh năm 1983 Trú tại: Thôn PY, Xã VA, huyện UH, Hà Nội (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 15/8/2018, Lê Mạnh T đi nhờ xe mô tô của một người lạ từ nhà tại thôn H, xã ĐT, huyện MĐ đến khu vực thôn Thôn PY, xã VA, huyện UH tìm và mua 200.000đ được 01 gói ma túy của một người đàn ông không quen biết rồi cầm ở tay phải đứng đợi để đi nhờ xe về thì bị Công an Đồn Xã VA, huyện Ứng Hòa đang làm nhiệm vụ nghi ngờ nên yêu cầu kiểm tra. Qúa trình kiểm tra T giao nộp 01 gói nhỏ bọc bên ngoài bằng giấy trắng, bên trong có các cục bột màu trắng và khai nhận đó là ma túy vừa mua để sử dụng. Công an Đồn Xã VA tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: + 01 gói bên ngoài bọc giấy màu trắng, bên trong có các cục bột màu trắng, được niêm phong trong bì thư ký hiệu T1; + 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202.
Kết luận giám định số 6705/KLGĐ-PC54 ngày 22/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy, khối lượng 0,116 gam là ma túy loại Heroin”.
Bản cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 18/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Lê Mạnh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” qui định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (Viết tắt: BLHS). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm 0 khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo từ 05 đến 06 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên miễn;
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy phong bì thư chứa ma túy gửi lại sau giám định; trả lại bị cáo điện thoại di động Nokia 1202 đã thu giữ của bị cáo. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ân hận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.
Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử (Viết tắt: HĐXX) có đủ căn cứ xác định: Lê Mạnh T là đối tượng nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng cho bản thân, tối ngày 15/8/2018, T đi nhờ xe mô tô từ nhà ở thôn H, xã ĐT, huyện MĐ, TP. Hà Nội đến khu vực thôn Thôn PY, xã VA, huyện UH, TP. Hà Nội tìm và mua của một đối tượng không quen biết 200.000 đồng được 01 gói ma túy loại Heroin, khối lượng 0,116gam rồi cầm ở tay. Khi T đang đứng chờ để đi nhờ xe về thì bị lực Công an Đồn Xã VA, huyện Ứng Hòa đang làm nhiệm vụ tại đây thấy nghi vấn nên kiểm tra, bắt giữ. Mặc dù lượng ma túy thu giữ của bị cáo ít, nhưng bị cáo đang có 02 tiền án; trong đó, lần xét xử sau (năm 2014) đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” chưa được xóa án tích; do vậy, lần phạm tội này bị coi là “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết tặng nặng định khung qui định tại điểm b khoản 2 Điều 53 của BLHS. Đối chiếu với qui định của pháp luật hình sự thì hành vi phạm tội lần này của Lê Mạnh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249 của BLHS.
Bởi vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, mà còn làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của nòi giống, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Đáng lưu ý, bị cáo đã phải 02 lần chấp hành án phạt tù với thời gian 08 năm, trong đó có 04 năm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, nhưng bị cáo không coi đó là bài học, lại tiếp tục tìm mua ma túy sử dụng nhằm thỏa mãn ham muốn của bản thân, thể hiện thái độ bất chấp, coi thường pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi nhưng cố ý vi phạm. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và dăn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt HĐXX thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Mặt khác, xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, bị cáo mới chấp hành xong án phạt tù về, không có công việc và thu nhập nên có thể xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng mức thấp của khung hình phạt, đồng thời miễn hình phạt bổ sung để bị cáo yên tâm cải tạo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật hình sự và chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội.
Đối tượng bán ma túy cho T, T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, việc mua bán diễn ra ở người đường. Ngoài lời khai của T thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ, xử lý.
Về vật chứng: Phong bì thư chứa ma túy niêm phong gửi lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 1202 thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm 0 khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt Lê Mạnh T 05 (năm) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2018; tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong gửi lại sau giám định, trả lại bị cáo điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 (Ma túy, điện thoại di động có tình trạng, đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ứng Hòa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa ngày 01/11/2018).
3. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án, bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - CA, VKS, THADS Ứng Hòa; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. Héi thÈm nh©n d©n | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Kiến ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ |