- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đình Văn T Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đình Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------- Bản án số: 88/2018/HSST Ngày 18/5/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Mạnh; Bà Ngô Thùy Phương.
Những người tiến hành tố tụng khác tại phiên tòa:
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Hòa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Võ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương, Kiểm sát viên;
Ngày 18/5/2018, tại Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 84/2018/HSST, ngày 05/4/2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2018/QĐXX-HSST ngày 04/5/2018 đối với bị cáo:
Đình Văn T, sinh năm 1994; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn Đèo Q, xã Lục S, huyện Lục N, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Bố đẻ: Đình Văn N, sinh năm 1959; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Kh, sinh năm 1956; Gia đình có 3 chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 05/8/2016 UBND xã Lục Sơn, huyện Lục Nam ra quyết định số 79/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường đối với T.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2018 đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thiện Phi, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn Liễn Thượng, xã Đại Xuân , huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ, ngày 06/01/2018 T đi bộ từ nhà trọ tại thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ ra một quán nước ở trung tâm thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ gặp một người đàn ông tên là Tâm là bạn quen biết ngoài xã hội để ngồi uống nước. Tâm hỏi mượn điện thoại của T điện thoại cho một người để trao đổi việc mua ma Ty. Khoảng 5 phút sau người đó điện thoại lại vào máy T hẹn ra đầu chợ thị trấn Phố Mới để mua bán ma Ty. Tâm đưa cho T 01 gói nilon nhỏ bỏ vào bao thuốc lá rồi bảo T mang ra bán cho người đó lấy 300.000đ. T biết gói nilon là ma Ty và đồng ý mang bán cho Tâm. T cầm gói ma Ty đi đến đầu chợ thị trấn Phố Mới gặp người thanh niên đó (sau này T biết tên là Phi). Khi đó Phi đang đứng cùng một thanh niên. T đưa cho Phi gói ma Ty thì bị công an phát hiện bắt giữ cùng tang vật.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, xử lý vật chứng: Thu giữ tại Ti quần đang mặc phía trước bên phải của T 300.000đ và 01 điện thoại di động; Thu tại Ti quần bên trái Phi đang mặc một bao thuốc lá màu vàng chứa 01 gói bọc giấy màu tím mở ra bên trong chứa 01 Ti nilon màu trắng chứa chất dạng tinh thể màu trắng;
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội cuả mình như cáo trạng đã nêu là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yêu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma Ty”;
Tại kết luận giám định số 153/KLGĐMT-PC54 ngày 06/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
“Chất dạng tinh thể màu trắng bên trong một gói nilong màu trắng có trọng lượng 0,0376 gam là ma Ty; Loại ma Ty:Methamphetamine”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với kết luận giám định.
Bản cáo trạng số 50/CTr-VKS ngày 04/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma Ty” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau; Phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang và toàn bộ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cuả bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đình Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù (được trừ thời gian tạm giữ tạm giam);
Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy tang vật là số ma Ty còn lại sau giám định;
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 300.000đ và chiếc điện thoại Nokia.
Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt;
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CUẢ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung vụ án đã thể hiện rõ: Khoảng 14h ngày 06/01/2018 tại chợ trung tâm thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ; Công an huyện Quế Võ và Công an thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ phát hiện và bắt quả tang Đình Văn T đang có hành vi bán trái phép 0,0376 gam ma túy chất Methamphetamine với giá 300.000 đồng cho Nguyễn Thiện Phi. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” phạm vào khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma Ty làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội cuả Nhà nước, việc đấu tranh đối với các tội phạm về ma túy hiện nay là nhiệm vụ cuả toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bất chấp sự ngăn cấm cuả pháp luật, bị cáo đã có hành vi bán ma túy cho người khác với mục đích kiếm lời nên đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi cuả bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma túy trên địa bàn dân cư, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của nhiều loại tôi phạm khác.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cuả bị cáo thì thấy;
Tình tiết tăng nặng: Không có;
Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu nên đây là tình tiết cần xem xét khi quyết định hình phạt.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1, điều 51 BLHS.
Từ những phân tích trên xét cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ giáo dục đối với bị cáo;
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bán ma túy giúp người khác thu lời bất chính nên cần phạt bị cáo một khoản tiền sung quỹ nhà nước;
Đối với Nguyễn Thiện Phi là người đã mua ma túy của T để sử dụng. Do lượng ma Ty Phi mua chưa đủ lượng để khởi tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ đã xử lý hành chính đối với Phi là phù hợp.
Đối với Lê Văn Tuyến là người đi cùng Phi mua ma túy của T. Tuyến không hề biết việc Phi mua ma túy nên cơ quan điều tra không xử lý đối với Tuyến là phù hợp.
Đối với người đàn ông tên là Tâm theo T khai là người đưa ma túy cho T đi bán tuy nhiên T không biết rõ họ tên, địa chỉ của Tâm; Cơ quan điều tra tách ra khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp;
Về vật chứng: Áp dụng điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS tịch thu tiêu hủy số ma Ty còn lại sau giám định;
Số tiền 300.000đ thu giữ của bị cáo là tiền có được từ việc bán ma túy và chiếc điện thoại Nokia là vật bị cáo sử dụng liên lạc khi mua bán ma túy nên cần tịch thu tiền và điện thoại sung quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định cuả pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Đình Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; Điều 47; Điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 329 BLTTHS; Nghị quyết 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội;
Xử phạt: Đình Văn T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2018;
Phạt bị cáo 5.000.000đ sung quỹ nhà nước.
Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Tịch thu tiêu hủy tang vật còn lại sau giám định; Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 300.000đ và chiếc điện thoại Nokia. Tất cả các tang vật hiện có theo biên bản bàn giao tang vật ngày 05/4/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận kết quả bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Quế Võ; - Công an huyện Quế Võ. - Chi cục THADS huyện Quế Võ - Bị cáo; - Lưu; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thúy Hằng |