- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H (tức Nguyễn Văn Hòa) 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2018/HS-ST Ngày 29-6-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga.
Bà Nguyễn Thị Mai.
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh – Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2018/HSST-QĐ ngày 25 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Văn Hòa), sinh năm 195X, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Đương D, phường D, Quận L, Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 2/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (chết) và bà Trần Thị V; có vợ Bùi Thị O (đã ly hôn); có 02 con; nhân thân: Án số 342 ngày 12/12/1990 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù tội Trộm cắp tài sản; Án phúc thẩm số 129 ngày 11/9/1979 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đều đã xóa án tích); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 24/11/2017, thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh ngày 25/11/2017; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8h ngày 22/11/2017 Bạch Thái C, sinh năm 196Y; ĐKTT: Đường M, phường D, Lê Chân, Hải Phòng đi bộ từ nhà tới nhà số 159 Dư Hàng để mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, C vào gặp và hỏi mua của Nguyễn Văn H 100.000 đồng ma túy, H đồng ý và lấy 01 gói Heroine từ trong lọ nhựa màu trắng ở khu vực gần giường ngủ ra đưa cho C. C cất số ma túy trên vào túi áo khoác bên trái rồi ra về tới khu vực trước cửa nhà số 35 Chùa Hàng thì bị tổ Công tác công an phường Dư Hàng kiểm tra thu giữ số ma túy trên.
Tại bản kết luận giám định số 1124/KLGĐ ngày 24/11/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận chất bột trong 01 gói giấy thu giữ của C là ma túy, có trọng lượng 0,0661 gam, là loại Heroine.
Tại cơ quan điều tra Bạch Thái C khai nhận như nội dung nêu trên.
Ngày 22/11/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn H thu giữ: Tại túi áo khoác bên phải của H đang mặc 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng nghi là heroin; tại túi áo khoác bên trái 01 túi nilon bên trong chứa chất bột màu trắng; số tiền 790.000 đồng; 15 mảnh giấy bạc kích thước 10 x 15 cm; 01 điện thoại di động; 05 lưỡi dao lam.
Tại bản kết luận giám định số 1125/KLGĐ ngày 26/11/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng trong 01 gói giấy thu giữ của H là ma túy, có trọng lượng 0,0605 gam, là loại Heroine; chất bột màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của H là ma túy, có trọng lượng 0,4512 gam là loại Heroine.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn H khai nhận: Khoảng 17h ngày 21/11/2017 H đi bộ một mình tới nhà T (hiện chưa xác định được căn cước lai lịch) ở khu vực cuối ngõ 240 Tô Hiệu để mua ma túy về sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác kiếm lời. Khi đến nơi H mua của Thành 1.250.000 đồng Heroine được 5 gói Heroine, H mang số Heroine vừa mua về nhà đổ dồn vào 01 vỏ túi nilon để bơm kim tiêm sau đó lấy 1 ít Heroine ra gói vào 01 mảnh giấy màu trắng đút vào túi áo khoác bên phải, 01 ít Heroine ra gói vào 01 mảnh giấy màu trắng cho vào 01 vỏ hộp nhựa hình trụ tròn màu trắng để ở gần giưởng ngủ trong nhà. H đã sử dụng 01 phần Heroine trong vỏ túi nilon đựng bơm kim tiêm; số heroine còn lại trong vỏ túi nilon bơm kim tiêm H hàn mép lại và cho vào túi áo khoác bên trái. Đến khoảng hơn 8h ngày 22/11/2017 C tới nhà và mua của H 100.000 đồng Heroine như nội dung nêu trên.
Ngày 24/11/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân ra Lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Văn H về hành vi Mua ban trái phép chất ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 79/CT-VKSLC ngày 02/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (tương đương khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999).
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận đã bán 01 gói ma túy cho Bạch Thái C có trọng lượng 0,0661 gam, là loại Heroine và có hành vi cất giữ 02 gói ma túy, có trọng lượng 0,5117 gam, là loại Heroine mục đích để bán cho đối tượng nghiện kiếm lời như đã khai tại cơ quan điều tra và cáo trạng nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H và đề nghị HĐXX:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 36 đến 42 tháng tù.
Bị cáo không có công việc ổn định và tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong lượng ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định; 15 mảnh giấy bạc kích thước 10 x 15 cm; 05 lưỡi dao lam;
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động X phone màu vàng.
Trả lại bị cáo số tiền 790.000 đồng; nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H nộp lại số tiền 100.000đ là tiền do phạm tội mà có để nộp vào ngân sách Nhà nước;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và cá chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Vào hồi 08h 20’ ngày 22/11/2017 bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy, có trọng lượng 0,0661 gam, là loại Heroine cho Bạch Thái C tại số 159 Dư Hàng, phường Dư Hàng, quận Lê Chân, Hải Phòng, ngoài ra Nguyễn Văn H còn có hành vi tàng trữ 02 gói ma túy, có trọng lượng 0,5117 gam, là loại Heroine mục đích để bán cho đối tượng nghiện kiếm lời nên đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 giống với tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và công văn số 04/TANDTC-PC ngày 09/1/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao nên HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 để áp dụng đối với bị cáo.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; nhân thân bị cáo đã 02 lần bị kết án, tuy các tiền án này đều đã được xóa án tích nhưng cho thấy bị cáo có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém, bản thân nghiện ma túy nên cần xử bị cáo mức án bắt cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo và giúp bị cáo cai nghiện ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong đựng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định; 15 mảnh giấy bạc kích thước 10 x 15 cm; 05 lưỡi dao lam thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H. Xét đây là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy
Đối với 01 điện thoại di động X phone màu vàng thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền 790.000 đồng thu giữ của H, xét đây là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án
Đối với số tiền 100.000đ là tiền bị cáo H bán ma túy cho bị cáo C, số tiền trên H đã tiêu sài cá nhân hết; xét đây là tiền do phạm tội mà có nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự 1999; điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 buộc bị cáo phải nộp lại để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn H hiện chưa xác định được căn cước lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân chưa có căn cứ để xử lý.
Đối với Bạch Thái C có hành vi tàng trữ ma túy, có trọng lượng 0,0661 gam, là loại Heroine nhưng lượng ma túy chưa đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy nên ngày 27/11/2018 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Dư Hàng, Lê Chân, Hải Phòng đã ra Quyết định Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với C.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H (tức Nguyễn Văn Hòa) 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2017 đến 25/11/2017).
Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự 1999; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định; 15 mảnh giấy bạc kích thước 10 x 15 cm; 05 lưỡi dao lam (Theo biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng giữa Công an quận Lê Chân và thi hành án dân sự quận Lê Chân ngày 02 tháng 5 năm 2018).
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu X phone, màu vàng dạng bàn phím đã cũ (Theo biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng giữa Công an quận Lê Chân và thi hành án dân sự quận Lê Chân ngày 02 tháng 5 năm 2018).
Tiếp tục tạm giữ số tiền 790.000 đồng để đảm bảo việc thi hành án, số tiền còn lại trả cho bị cáo (Theo biên lai thu tiền số 0004165 ngày 03 tháng 5 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân).
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H nộp lại số tiền 100.000đ là tiền do phạm tội mà có để nộp ngân sách Nhà nước.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải nộp lại nói trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - VKSND quận Lê Chân; - TAND thành phố Hải Phòng; - Công an quận Lê Chân; PV27; - Bị cáo; - Trại tạm giam; - UBND phường Dư Hàng; - Thi hành án dân sự quận Lê Chân; - Sở Tư pháp TP Hải Phòng; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Hồng |