- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc D - Tô Văn T"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Ngọc D. Bà Nguyễn Ngọc D được quyền ly hôn ông Tô Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2018/HNGĐ-ST Ngày: 10/9/2018. V/v tranh chấp: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Vĩnh Hữu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Châu Tiếp.
Bà Nguyễn Thị Thúy Vân.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Huỳnh Thanh An, thư ký Tòa án.
Ngày 10 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 95/2018/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2018 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2018/QĐXX-ST ngày 04/7/2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1961; (có mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã N, thị xã P, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Tô Văn T, sinh năm 1962; (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã N, thị xã P, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Nguyễn Ngọc D trình bày: Giữa chị Nguyễn Ngọc D và ông Tô Văn T kết hôn năm 1981, sau đó đã ly hôn đến năm 2011 thì vợ chồng chung sống và đăng ký kết hôn ngày 13/4/2011, tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Q (nay thị xã P), tỉnh Tiền Giang. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường phát sinh phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông T không chăm lo làm ăn, thường nhậu say, đánh đập vợ dẫn đến vợ chồng thường phát sinh tranh cãi, chính quyền địa phương can thiệp mời ông T lên làm việc nhưng sau đó ông T vẫn không thay đổi. Vì thế về tình cảm vợ chồng không còn nên bà Nguyễn Ngọc D yêu cầu được ly hôn ông Tô Văn T;
Về con chung: Giữa bà Nguyễn Ngọc D và ông Tô Văn T có 02 con chung tên Tô Cẩm L, sinh năm 1982 và Tô Minh C, sinh năm 1984, hiện nay các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Tô Văn T: Không có ý kiến gì đối với lời trình bày của bà Nguyễn Ngọc D.
Tại phiên tòa, bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Bà D yêu cầu được ly hôn ông Tô Văn T. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, ông Tô Văn T vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc D thì vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn” được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Xét trong quá trình thụ lý vụ án, hòa giải và chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Tô Văn T theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân Sự, ông T vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân Sự xét xử vắng mặt ông T.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc D được ly hôn ông Tô Văn T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào lời trình bày, các chứng cứ do đương sự cung cấp thì giữa bà Nguyễn Ngọc D và ông Tô Văn T kết hôn năm 1981, sau đó đã ly hôn đến năm 2011 thì vợ chồng chung sống và đăng ký kết hôn ngày 13/4/2011, tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Q (nay thị xã P), tỉnh Tiền Giang. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông T không chăm lo làm ăn, thường nhậu say, đánh đập vợ dẫn đến vợ chồng thường phát sinh tranh cãi, chính quyền địa phương can thiệp mời ông T lên làm việc nhưng sau đó ông T vẫn không thay đổi. Vì thế về tình cảm vợ chồng không còn nên bà Nguyễn Ngọc D yêu cầu được ly hôn ông Tô Văn T.
Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Tô Văn T nhưng ông T vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu này của bà D. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì xem như ông T không có phản đối gì đối với yêu cầu của bà D được ly hôn ông T.
Vì thế Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống vợ chồng giữa bà D và ông T không còn hạnh phúc, cuộc sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được cho nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Ngọc D.
Về con chung: Do các con đã trưởng thành nên bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 51, 56 Luật hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ các điều 92, 147, 220, 227, 228, 233 Bộ luật Tố tụng Dân Sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Ngọc D. Bà Nguyễn Ngọc D được quyền ly hôn ông Tô Văn T.
Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà D đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001440 ngày 20/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm; Đối với ông Tô Văn T vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã Cai Lậy; - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy; - Các đương sự; - UBND xã (phường) Lưu: HS, AV | Trƣơng Vĩnh Hữu |