- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa bà Hồ Thi Kim D và ông Huỳnh Thanh L"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 876/2023/HNGĐ-ST Ngày : 06-9-2023 V/v Tranh chấp ly hôn giữa bà Hồ Thị Kim D và ông Huỳnh Thanh L. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa : Bà Trần Thị Thu Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Danh Cư
2/ Bà Đoàn Ngọc Diễm Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 927/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022, về việc “Vụ án ly hôn - mâu thuẫn gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 139/2023/QĐST-DS ngày 10/8/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Kim D, sinh năm 1976
Địa chỉ: Số xx, ấp B, xã T, huyện B, TP.Hồ Chí Minh.
(vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh L, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số y đường K, Phường M, Quận 8, TP.Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 22/6/2022, biên bản hòa giải ngày 12/10/2022 và biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 07/7/2023, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn bà Hồ Thị Kim D trình bày:
Về hôn nhân: Bà Hồ Thị Kim D và ông Huỳnh Thanh L tự nguyện sống chung vào năm 1994, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 13/02/2006 (đăng ký trễ hạn). Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2008 vì lý do cơm áo gạo tiền, không có tiếng nói chung. Vợ chồng hay gây lộn, vợ nói chồng không nghe, vợ chồng không quan tâm lẫn nhau, ông L không ở chung nhà, không quan tâm đến vợ con. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Dù hai bên đã nhiều lần hàn gắn hạnh phúc nhưng không thành, nay Bà D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên bà xin được ly hôn với ông Huỳnh Thanh L.
Về con chung: Bà Hồ Thị Kim D và ông Huỳnh Thanh L có 02 con chung tên Huỳnh Thanh T sinh ngày 05/12/1994 (đã thành niên) và Huỳnh Ngọc TN sinh ngày 07/01/2006.
Trong trường hợp ly hôn: Bà D xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Huỳnh Ngọc TN, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà D xác nhận bà và ông L không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà D xác nhận không có.
Tại bản khai đề ngày 12/10/2022, biên bản hòa giải ngày 12/10/2022, bị đơn ông Huỳnh Thanh L trình bày:
Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020 vì lý do vợ không còn muốn sống với ông nữa. Vợ chồng đã ly thân, ông dọn về sống với ba mẹ ông tại Phường M, Quận T từ năm 2020 đến nay. Việc bà Hồ Thị Kim D xin ly hôn, ông không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông L và Bà D có 02 con chung tên Huỳnh Thanh T sinh ngày 05/12/1994 (đã thành niên) và Huỳnh Ngọc TN sinh ngày 07/01/2006. Nếu Tòa giải quyết ly hôn, ông đồng ý giao con chung bé Ngân cho Bà D trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng hai bên tự thỏa thuận giải quyết.
Về tài sản chung: Ông L xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông L xác nhận không có.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành, các bên đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến.
Ngày 07/7/2023, nguyên đơn bà Hồ Thị Kim D có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Nguyên đơn bà Hồ Thị Kim D khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn với ông Huỳnh Thanh L. Vợ chồng Bà D và ông L chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nhận thấy hôn nhân của ông L và Bà D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đến nay phía bị đơn ông L không có biện pháp tích cực nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, căn cứ vào quy định của pháp luật, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
+ Về con chung đề nghị: Giao con chung Huỳnh Ngọc TN sinh ngày 07/01/2006 cho Bà D trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận giải quyết.
+ Về tài sản chung: Các bên xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà D và ông L xác nhận không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét đơn yêu cầu ly hôn của bà Hồ Thị Kim D thì đây là tranh chấp ly hôn theo yêu cầu một bên, do bị đơn ông Huỳnh Thanh L cư trú tại Quận 8 nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Hồ Thị Kim D có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn ông Huỳnh Thanh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không đến để tham dự phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về các yêu cầu của đương sự:
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Kim D, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, bà Hồ Thị Kim D và ông Huỳnh Thanh L chung sống từ năm 1994, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 01.2006 ngày 13/02/2006 (đăng ký trễ hạn) nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận phù hợp với Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Bà Hồ Thị Kim D yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Thanh L: Xét quá trình chung sống, ông L và Bà D đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo Bà D trình bày là do cơm áo gạo tiền, không có tiếng nói chung. Vợ chồng hay gây lộn, vợ nói chồng không nghe. Bà xác nhận là vợ chồng không quan tâm lẫn nhau, ông L không ở chung nhà, không quan tâm đến vợ con. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 đến nay, sống riêng nhà. Riêng ông L trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn là do vợ không còn muốn sống với ông nữa. Vợ chồng đã ly thân, ông dọn về sống với ba mẹ của ông tại Phường M, Quận T từ năm 2020 đến nay. Việc bà Hồ Thị Kim D xin ly hôn, ông không đồng ý ly hôn.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng ông L và Bà D là trầm trọng, không thể hàn gắn được, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, không có tình nghĩa vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài và hai bên đã tự sống ly thân, bỏ mặc nhau, không còn yêu thương nhau, không giúp đỡ để cùng nhau phát triển. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ trách nhiệm gia đình, nuôi dạy con cái. Tòa án đã tiến hành hòa giải, tạo điều kiện cho Bà D và ông L đoàn tụ hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng Bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Tình trạng hôn nhân giữa ông L và Bà D đã có những mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đến nay phía bị đơn ông L cũng không có biện pháp tích cực nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Hồ Thị Kim D là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Bà Hồ Thị Kim D và ông Huỳnh Thanh L có 02 con chung tên Huỳnh Thanh T sinh ngày 05/12/1994 (đã thành niên) và Huỳnh Ngọc TN sinh ngày 07/01/2006. Xét, sự thỏa thuận của các đương sự: Ông L đồng ý giao con chung Huỳnh Ngọc TN cho Bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà D không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con, ông L đề nghị việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung Huỳnh Ngọc TN cho Bà D trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận giải quyết - là hợp lý, có cơ sở, phù hợp với Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung: Bà Hồ Thị Kim D và ông Huỳnh Thanh L xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà D và ông L xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 8, Điều 9, Điều 19; Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Hồ Thị Kim D.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Kim D được ly hôn với ông Huỳnh Thanh L (Giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 01.2006 do Ủy ban nhân dân Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/02/2006).
2. Về con chung: Bà Hồ Thị Kim D và ông Huỳnh Thanh L có 02 con chung tên Huỳnh Thanh T sinh ngày 05/12/1994 (đã thành niên) và Huỳnh Ngọc TN sinh ngày 07/01/2006. Giao con chung Huỳnh Ngọc TN cho bà Hồ Thị Kim D trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục, việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận giải quyết.
Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được quyền cản trở. Nhưng ông L không được lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
3. Về tài sản chung: Bà D và ông L xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà D và ông L xác nhận không có nên Tòa án không xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà Hồ Thị Kim D phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0017213 ngày 08/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Hồ Thị Kim D đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày đương sự nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND.TPHCM; - VKSND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu: Vp, hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiệp |