- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiều Thị Tường V-Song, Đạt Q"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Kiều Thị Tường V.
- Căn cứ chính? Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 875/2019/HNGĐ-ST Ngày: 26/7/2019. V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Phan Thị Minh Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Hoàng Điệp
2/ Bà Nguyễn Thị Nở
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 291/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2551/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4824/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Kiều Thị Tường V, sinh năm 1992.
Địa chỉ: 23/25 Đường N, Phường S, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Địa chỉ liên lạc: 947/23 Đường C, Phường B, quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Song, Đạt Q (Song, Dat Q), sinh năm 1983.
Quốc tịch: Hoa Kỳ.
Địa chỉ: 3721 SE 136th Ave. Portland.OR.97236.USA.
(Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 05/6/2018, bản tự khai ngày 17/8/2018 nguyên đơn bà Kiều Thị Tường V trình bày:
Bà và ông Song, Đạt Q tự nguyện kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 43/2016 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp ngày 02/11/2016. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn gia đình nhưng không đạt được kết quả nên đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2017 cho đến nay. Ông Song, Đạt Q đã trở về Hoa Kỳ. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Song, Đạt Q để có điều kiện ổn định cuộc sống.
Con chung: Quá trình chung sống, bà và Song, Đạt Q có 01 con chung tên Song Kiều A, sinh ngày 30/01/2017. Bà đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng trẻ Song Kiều A cho đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông Song, Đạt Q cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: Bà Kiều Thị Tường V khai không có.
Ngày 27/9/2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có công văn số 239/UTTPDS- TA30 về thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp gửi Bộ Tư pháp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền Hoa Kỳ thông báo việc thụ lý vụ án, tiến hành lấy lời khai và thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 25 tháng 4 năm 2019, lần thứ hai vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 27 tháng 5 năm 2019 và xét xử công khai lần thứ nhất vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 26 tháng 6 năm 2019; lần thứ hai vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 26 tháng 7 năm 2019 đối với ông Song, Đạt Q uang.
Ngày 14/11/2018, Bộ Tư pháp đã có công văn số 2834/CH-BTP về việc thực hiện ủy thác tư pháp theo đó, đề nghị Công ty ABC Legal, Hoa Kỳ thực hiện ủy thác tư pháp đối với ông Song, Đạt Q.
Ngày 25/02/2019, Bộ Tư pháp đã có công văn số 550/BTP-PLQT thông báo kết quả ủy thác tư pháp đối với ông Song, Đạt Q. Theo đó, Cơ quan có thẩm quyền của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã thực hiện ủy thác nêu trên vào ngày 20/01/2019 bằng phương thức: Chuyển cho người sống chung cùng đương sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Ngày 20/01/2018, nguyên đơn bà Kiều Thị Tường V có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án, hòa giải và xét xử vì lý do bận công việc.
Bị đơn ông Song, Đạt Q đã được Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành ủy thác tư pháp để tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng ông Song, Đạt Q không có văn bản trả lời và vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán chủ tọa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về “Nguyên tắc xét xử, thành phần hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên trong hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa; Phạm vi xét xử sơ thẩm” tại phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Kiều Thị Tường V được ly hôn với ông Song, Đạt Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Xét yêu cầu của nguyên đơn thuộc tranh chấp về ly hôn, bị đơn ông Song, Đạt Q đang cư trú hợp pháp tại Hoa Kỳ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về vắng mặt đương sự: Xét bà Kiều Thị Tường V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Ông Song, Đạt Q đã được Tòa án nhân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành ủy thác tư pháp thông báo thời gian xét xử nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Song, Đạt Q, bà Kiều Thị Tường V theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu ly hôn của bà Kiều Thị Tường V, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 43/2016 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp ngày 02/11/2016 có đủ cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Kiều Thị Tường V và ông Song, Đạt Q là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, theo lời khai của bà V thì hai vợ chồng sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn gia đình nhưng không đạt được kết quả nên đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2017 cho đến nay. Ông Song, Đạt Q đã trở về Hoa Kỳ. Xét thấy vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau san sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; nghĩa vụ sống cùng với nhau trong khi hai vợ chồng bà V và ông Song, Đạt Q mỗi người một nơi, tình cảm vợ chồng càng không có điều kiện vun đắp. Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp thông báo ngày giờ xét xử nhưng ông Song, Đạt Q vẫn không có mặt, không có văn bản trả lời, chứng tỏ ông Song, Đạt Q không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này có căn cứ về việc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V tuyên bà Kiều Thị Tường V được ly hôn với ông Song, Đạt Q như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Con chung: Quá trình chung sống bà Kiều Thị Tường V và ông Song, Đạt Q có 01 con chung tên Song Kiều A, sinh ngày 30/01/2017. Bà Vy đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng trẻ Song Kiều A cho đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông Song, Đạt Q cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy: Trẻ Song Kiều A sinh năm 2017 dưới 36 tháng tuổi, từ khi sinh cho đến nay đều do bà Vy trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, do đó nên tiếp tục giao con chung Song Kiều A, sinh ngày 30/01/2017 cho bà Vy trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi con thành niên là đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho trẻ phù hợp với quy định tại Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi bà V có yêu cầu.
Tài sản chung và nợ chung: Bà Kiều Thị Tường V khai không có.
[3] Án phí, chi phí tố tụng khác:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Kiều Thị Tường V phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, Khoản 4 Điều 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Khoản 1 Điều 273; Điều 464; điểm d Khoản 1, Khoản 2 Điều 469, điểm c Khoản 5 Điều 477, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 53, Điều 54, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Khoản 3 Điều 81, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Kiều Thị Tường V.
Quan hệ hôn nhân: Bà Kiều Thị Tường V được ly hôn với ông Song, Đạt Q (Song, Dat Q).
Giấy chứng nhận kết hôn số 43/2016 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp ngày 02/11/2016 cho bà Kiều Thị Tường V và ông Song, Đạt Q (Song, Dat Q) không còn giá trị pháp lý.
Con chung: Giao con chung tên Song Kiều A, sinh ngày 30/01/2017 cho bà Kiều Thị Tường V được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Song, Đạt Q (Song, Dat Q) cho đến khi bà Kiều Thị Tường V có yêu cầu.
Ông Song, Đạt Q (Song, Dat Q) có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Bà Vy có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Song, Đạt Q (Song, Dat Q) nếu ông Song, Đạt Q (Song, Dat Q) lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản chung, nợ chung: Không có.
2/ Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Kiều Thị Tường V phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0044873 ngày 19/6/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3/ Án xử sơ thẩm, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bà Kiều Thị Tường V nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với ông Song, Đạt Q (Song, Dat Q) thời hạn kháng cáo bản án là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Tối cao; - Tòa án nhân dân Cấp cao tại TP. HCM; - Viện kiểm sát Cấp cao tại TP. HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM; - Cục Thi hành án dân sự TP. HCM; - Ủy ban nhân dân Thành phố T, tỉnh Phú Yên; - Đương sự; - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Phan Thị Minh Nguyệt |