vanban.org

Bản án 874/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thu T đối với ông Vũ Hòa P.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thu T được ly hôn với ông Vũ Hòa P. Về con chung: Bà Bùi Thị Thu T và ông Vũ Hòa P có 02 con chung tên Vũ Thành Đ - sinh ngày 15/01/2014 và Vũ Đức H - sinh ngày 09/02/2017. Giao bà Bùi Thị Thu T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung tên Vũ Thành Đ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Bùi Thị Thu T ly hôn với ông Vũ Hòa P."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thu T đối với ông Vũ Hòa P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 874/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21 - 6 - 2024
V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Liên Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hồi.

2. Ông Phạm Văn Chính.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn,Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1131/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 206/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 150/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thu T, sinh năm 1986. Địa chỉ: 8 ấp T, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Vũ Hòa P, sinh năm 1978. Địa chỉ: 7 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 09/5/2022, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Bùi Thị Thu T trình bày:

Sau một thời gian tìm hiểu, bà Bùi Thị Thu T và ông Vũ Hòa P tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi cưới thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Khoảng thời gian sau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng cãi vã không quan tâm đến nhau mạnh ai nấy sống. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Hòa P. Về con chung: Trong thời gian chung sống, ông Vũ Hòa P và bà Bùi Thị Thu T có 02 con chung tên Vũ Thành Đ - sinh ngày 15/01/2014 và Vũ Đức H - sinh ngày 09/02/2017. Bà Bùi Thị Thu T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung; không yêu cầu ông Vũ Hòa P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ trở về chung sống với nhau nhưng chỉ có nguyên đơn bà Bùi Thị Thu T có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, ông Vũ Hòa P vắng mặt không lý do và bà Bùi Thị Thu T có đơn yêu cầu không tiếp tục tổ chức hòa giải nên vụ kiện không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng dân sự theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa bà Bùi Thị Thu T và ông Vũ Hòa P là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn cư trú tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã niêm yết và tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Vũ Hòa P vắng mặt không lý do và bà Bùi Thị Thu T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thu T và ông Vũ Hòa P tự nguyện tiến đến hôn nhân. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 38/2013 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/3/2013, đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị Thu T và ông Vũ Hòa P là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

[4] Trong quá trình tố tụng, bị đơn không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bị đơn đã từ bỏ quyền chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét yêu cầu của nguyên đơn dựa trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp theo quy định của pháp luật.

[5] Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Theo đơn khởi kiện bà Bùi Thị Thu T xác định đời sống hôn nhân giữa bà Bùi Thị Thu T và ông Vũ Hòa P phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, không còn quan tâm đến nhau, mặc ai nấy sống và tự lo cho bản thân.

[6] Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”

[7] Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên cho thấy, vợ chồng bà Bùi Thị Thu T và ông Vũ Hòa P đã trải qua thời gian dài mâu thuẫn, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, mỗi người mạnh ai nấy sống và không quan tâm đến nhau đến đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về con chung, cấp dưỡng: Trong thời gian chung sống, bà Bùi Thị Thu T và ông Vũ Hòa P có 02 con chung tên Vũ Thành Đ - sinh ngày 15/01/2014 và Vũ Đức H - sinh ngày 09/02/2017. Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bà Bùi Thị Thu T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung; không yêu cầu ông Vũ Hòa P cấp dưỡng nuôi con chung; Tại các bản tự khai, cháu Vũ Thành Đ và cháu Vũ Đức H xác định có nguyện vọng được mẹ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

[9] Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”

[10] Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Thu T, giao 02 con chung tên Vũ Thành Đ - sinh ngày 15/01/2014 và Vũ Đức H - sinh ngày 09/02/2017 cho bà Bùi Thị Thu T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con chung lần lượt trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với nguyện vọng của các cháu Vũ Thành Đ, Vũ Đức H; tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Vũ Hòa P do bà Bùi Thị Thu T chưa có yêu cầu, là phù hợp với quy định của pháp luật.

[11] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[12] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 147, Điều 203, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266 và Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 19, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thu T đối với ông Vũ Hòa P.

2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Thu T được ly hôn với ông Vũ Hòa P.

3. Về con chung: Bà Bùi Thị Thu T và ông Vũ Hòa P có 02 con chung tên Vũ Thành Đ - sinh ngày 15/01/2014 và Vũ Đức H - sinh ngày 09/02/2017. Giao bà Bùi Thị Thu T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung tên Vũ Thành Đ

- sinh ngày 15/01/2014 và Vũ Đức H - sinh ngày 09/02/2017 cho đến khi các con chung lần lượt trưởng thành đủ 18 tuổi; tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi cong chung đối với ông Vũ Hòa P cho đến khi bà Bùi Thị Thu T có đơn yêu cầu.

Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con; không bên nào được quyền ngăn cản việc thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Bùi Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 09/11/2023, bà Bùi Thị Thu T đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2022/0017410 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn được đối trừ.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ