vanban.org

Bản án 87

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 23/11/2021 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn T B. Giữ nguyên quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2021/HSST ngày 23 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện CK, tỉnh Phú Thọ đã tuyên đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn T B. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Mạnh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn T và đồng bọn phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án:87/2021/HSPT
Ngày 23 tháng 11 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Hồ Văn Việt

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Việt Tiến

Ông Phạm Văn Toàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng T Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2021/TLPT-HS ngày 13 tháng 8 năm 2021 do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn T B, Hoàng Mạnh H, Nguyễn MC đối với Bản án hình sơ thẩm số 40/2021/HSST ngày 23/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện CK, tỉnh Phú Thọ.

Các bị cáo kháng cáo:

1. Bị cáo Nguyễn Văn T, sinh năm 1988, tại xã ST, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Xóm Dộc, xã ST, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960; Con bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1963; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1997 và 01 người con sinh năm 2020.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 23/2010/HSST ngày 20/5/2010, Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân huyện B Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 09 năm tù về tội Cướp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 18/12/2017.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện nay đang tại ngoại tại xã ST, huyện CK, tỉnh Phú Thọ (Có mặt tại phiên tòa).

2. Bị cáo Nguyễn T B, sinh năm 1984, nơi sinh và cư trú tại: Khu QT 1, xã Yên Tập, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hồng H, sinh năm 1960; Con bà Lã Thị TH, sinh năm 1960; Bị cáo có vợ là Đỗ Thị S, sinh năm 1991 và 02 người con; con lớn sinh năm 2012; con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 46/2014/HSST ngày 28/7/2014, Nguyễn T B bị Tòa án nhân dân huyện huyện CK xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ và phạt bổ sung 3.000.000đồng về tội Đánh bạc, đã thi hành xong án phí và phạt bổ sung tháng 10/2014.

Tại bản án hình sư sơ thẩm số 59/2015/HSST ngày 28/9/2015, Nguyễn T B bị Tòa án nhân dân huyện huyện CK xử phạt 36 tháng cải tạo không giam giữ và phạt bổ sung 4.000.000đồng, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 4.585.000đồng, đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 03/11/2018, thi hành án phí và hình phạt bổ sung xong tháng 12/2016.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện nay đang tại ngoại tại xã Yên Tập, huyện CK, tỉnh Phú Thọ (Có mặt tại phiên tòa).

3. Bị cáo Hoàng Mạnh H, sinh năm 1977, nơi sinh: Huyện CK, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú tại: Khu 09 Sơn Hà, thị trấn CK, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá lớp 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1946; Con bà Trần Thị HH, sinh năm 1948; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị KA, sinh năm 1978 và 03 người con; con lớn nhất sinh năm 1998; con nhỏ nhất sinh năm 2005

Tiền sự; Tiền án: Không.

Ngày 18/02/1998, Hoàng Mạnh H bị Tòa án nhân dân huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ xử phạt 04 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 179/2012/HSST ngày 23/7/2012, H bị Tòa án nhân dân thành phố VT, tỉnh Phú Thọ xử phạt 7.000.000đồng về tội đánh bạc, đã chấp hành xong hình phạt và án phí ngày 09/5/2013.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 30/2013/HSST ngày 25/6/2013, H bị Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xử phạt 12 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, thi hành xong án phí tháng 10/2013.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 51/2014/HSST ngày 27/8/2014, H bị Tòa án nhân dân huyện CK, tỉnh Phú Thọ xử phạt 05 tháng tù về tội Đánh bạc, tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành của bản án số 30/2013 do bị cáo được hoãn thi hành án, H còn phải chấp hành 13 tháng 27 ngày tù, H đã thi hành xong án phí vào tháng 11/2014, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/5/2016.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13/8/2020, được hủy bỏ biện pháp tạm giam ngày 02/11/2020; hiện nay đang cư trú tại khu Sơn Hà, thị trấn CK, huyện CK, tỉnh Phú Thọ (Có mặt tại phiên tòa).

4. Bị cáo Nguyễn MC, sinh năm 1967, nơi sinh: Huyện CK, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú tại: Khu Văn Phú 4, thị trấn CK, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá lớp 06/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu P; Con bà Trần Thị N (đều đã chết). Bị cáo có vợ là Đinh Thị L, sinh năm 1969 và 02 người con; con lớn sinh năm 1992; con nhỏ sinh năm 1994

Tiền án: Không.

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 59/2002/HSST ngày 24/9/2002, C bị Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt 11 năm tù và phạt 5.000.000đồng về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong hình phạt tiền và án phí.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 73/2012/HSST ngày 28/12/2012, C bị Tòa án nhân dân huyện CK xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ và phạt bổ sung 6.000.000đồng về tội đánh bạc, đã thi hành xong phạt bổ sung và án phí tháng 3/2016.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện nay đang tại ngoại tại thị trấn CK, huyện CK, tỉnh Phú Thọ (Có mặt tại phiên tòa).

* Các bị cáo không yêu cầu luật sư tại phiên tòa phúc thẩm, nên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ không triệu tập những luật sư sau đây:

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Nguyễn MC: Ông Nguyễn Ngọc Đ và Ông Đặng Xuân C - Luật sư Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Minh Nghĩa thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

Địa chỉ: T6, số 74A/116, NH, Nhân Chính, T X, Hà Nội.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Mạnh H: Ông Trần Quốc T và Ông Đường Ngọc H - Luật sư Công ty Luật TNHH Bùi Loan - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội

Cùng địa chỉ: Số 131, phố SĐ, phường Sài Đồng, quận LB, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 20/9/2019, Hoàng Kim Ngọc cùng Nguyễn Anh Quang đến bãi đất trống ở gần lối lên KM79+500, đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai đoạn thuộc khu 08, xã Sai Nga (nay là khu Văn Phú 4, thị trấn CK), huyện CK, tỉnh Phú Thọ thì gặp Hoàng Mạnh H, Nguyễn Văn T cùng một số đối tượng chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ đang đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền, hình thức chơi xóc đĩa. Sau đó Ngọc và Quang tham gia đánh bạc cùng.

Bàn ghế để các đối tượng ngồi đánh bạc có sẵn ở bãi đất trống, các đối tượng sử dụng ứng dụng trò chơi xóc đĩa được cài đặt sẵn trên điện thoại cảm ứng để đánh bạc. Trong khi các đối tượng trên đánh bạc có Lê Hữu Phúc; Nguyễn Đình Vinh, Nguyễn MC; Nguyễn Quốc Huy; Nguyễn Thiết H; Trần Anh Tuấn, sinh năm 1984; Nguyễn Văn Đăng; Trần Xuân Trường; Trần Anh Tuấn, sinh năm 1982; Nguyễn T B cùng tham gia vào

đánh bạc.

Khi đánh bạc, có ván Nguyễn Văn T là người ấn nút xóc mở trên điện thoại, có ván những người chơi khác cũng tham gia ấn, các đối tượng sử dụng chiếc điện thoại di động cảm ứng mặt trước màu trắng, có cài đặt ứng dụng trò chơi xóc đĩa để đánh bạc. Theo lời khai của Nguyễn Văn T đây là chiếc điện thoại của Hoàng Mạnh H.

Hoàng Mạnh H đánh bạc được vài ván thì thua hết số tiền vào mục đích đánh bạc là 200.000đồng, nên đã để lại chiếc điện thoại lại cho các đối tượng khác tiếp tục đánh bạc. Quá trình đánh bạc các đối tượng không phải nộp tiền hồ cho ai, các đối tượng này đánh bạc đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì không chơi nữa.

Trong lúc các đối tượng đang đánh bạc thì có quần chúng nhân dân đi tới đây, phát hiện sự việc trên nên đã sử dụng camera bí mật quay video ghi lại hình ảnh các đối tượng đánh bạc rồi giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CK.

Ngày 23/9/2019, Hoàng Kim Ngọc đến Công an huyện CK đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên;

Ngày 03/10/2019, Lê Hữu Phúc đến Công an huyện CK đầu thú và khai nhận hành vi đánh bạc và tự nguyện giao nộp số tiền đánh bạc là 1.200.000đồng

Ngày 07/10/2019, Nguyễn Đình Vinh, Nguyễn Thiết H đến Công an huyện CK đầu thú và khai báo về hành vi đánh bạc ngày 20/9/2019 của bản thân; còn Trần Xuân trường bị triệu tập đến cơ quan điều tra đã khai báo về hành vi đánh bạc nộp số tiền dùng để đánh bạc cho cơ quan điều tra (Trường nộp 100.000đồng; Nguyễn Thiết H nộp 50.000đồng).

Hình thức đánh bạc: Các đối tượng đánh xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền, cac đối tượng tham gia chơi là sử dụng ứng dụng trò chơi xóc đĩa được cài đặt sẵn trên chiếc điện thoại có màn hình cảm ứng, màn hình điện thoại hiển thị hai cửa là chẵn và lẻ cùng bốn quân bài hình tròn và 01 nút bấm mở. Sau khi những người chơi chọn cửa và đặt tiền xong thì một người bấm nút mở để xem kết quả, nếu màn hình trò chơi hiển thị về cửa nào thì những người chơi đã đặt cửa đó thắng bạc và thắng được số tiền bằng với số tiền mà họ đã đặt cửa, ngược lại thì thua bạc và thua số tiền đã đặt cửa.

Những người chơi tự thỏa thuận ai muốn đặt cửa bao nhiêu thì tùy, nhưng tổng số tiền đặt cửa của những người đặt cửa chẵn phải bằng tổng số tiền đặt cửa của bên cửa lẻ để sau khi có kết quả thì tự thành toán cho nhau.

Trước khi đánh bạc Hoàng Mạnh H có 450.000đồng, sử dụng 200.000đồng vào mục đích đánh bạc; Hoàng Kim Ngọc có 300.000đồng; Lê Hữu Phúc có 200.000 đồng; Nguyễn Anh Quang có 400.000đồng; Nguyễn Đình Vinh có 100.000đồng; Nguyễn MC có 200.000đồng; Nguyễn Quốc Huy có 300.000đồng; Nguyễn T B có 200.000đồng; Nguyễn Thiết H có 150.000đồng; Trần Anh Tuấn sinh năm 1984 có 200.000đồng; Nguyễn Văn Đăng có 200.000đồng; Nguyễn Văn T có 4.300.000đồng; Trần Xuân Trường có 100.000đồng; Trần Anh Tuấn sinh năm 1982 có 150.000đồng. Tổng cộng số tiền các đối tượng trên sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.000.000đồng.

Sau khi đánh bạc, Hoàng Mạnh H, Hoàng Kim Ngọc, Nguyễn Đình Vinh, Trần Anh Tuấn sinh năm 1984; Nguyễn Văn T và Trần Anh Tuấn sinh năm 1982 đều thua hết toàn bộ số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc ở trên. Các đối tượng Nguyễn Văn Đăng, Nguyễn Thiết H thua bạc số tiền 100.000đồng, Nguyễn Anh Quang thua bạc số tiền 350.000đồng, Trần Xuân Trường vẫn còn số tiền ban đầu 100.000đồng. Nguyễn MC thắng bạc được số tiền 600.000đồng, Nguyễn T B thắng bạc được số tiền 300.000đồng, Lê Hữu Phúc thắng bặc được 1.000.000đồng.

Tại cơ quan điều tra Hoàng Kim Ngọc, Nguyễn Hữu Phúc, Nguyễn Anh Quang, Nguyễn Đình Vinh, Nguyễn MC, Nguyễn Quốc Huy, Nguyễn T B, Nguyễn Thiết H, Trần Anh Tuấn, sinh năm 1984; Nguyễn Văn Đăng, Nguyễn Văn T, Trần Xuân Trường và Trần Anh Tuấn, sinh năm 1982 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình về thời gian, địa điểm, phương thức, thủ đoạn phạm tội của mình.

Đối với bị cáo Hoàng Mạnh H: Tại các biên bản ghi lời khai và biên bản hỏi cung bút lục 494 đến bút lục 506 (gồm 01 đĩa ghi âm lời khai; biên bản ghi lời khai bút lục số 662 - 663) H đều thừa nhận vào thời gian, địa điểm; như đã nêu trên, H có mang theo số tiền 450.000đồng, trong đó sử dụng 200.000đồng vào mục đích đánh bạc. H đánh bạc khoảng 3 đến 4 ván sau đó cho Nguyễn Văn T mượn điện thoại tiếp tục đánh bạc còn H nghỉ không chơi nữa.

H cũng đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO và khai báo với cơ quan điều tra đó là chiếc điện thoại sử dụng để đánh bạc vào ngày 20/9/2019 như đã nêu trên.

Tuy nhiên, sau khi Viện kiểm sát nhân dân huyện CK trả hồ sơ điều tra bổ sung để trưng cầu giám định đối với chiếc điện thoại mà Hoàng Mạnh H đã giao nộp thì tại cơ quan điều tra thì H thay đổi lời khai và không thừa nhận hành vi đánh bạc của bản thân vào ngày 20/9/2019 như đã khai trươc đó, H cũng trình bày chiếc điện thoại trên không phải là chiếc điện thoại sử dụng làm công cụ để đánh bạc. Tại phiên Tòa, H khai không thực hiện hành vi đánh bạc như cáo trạng đã nêu.

Quá trình điều tra xác định còn một số đối tượng khác tới tham gia đánh bạc cùng, có người thắng bạc và cầm tiền đi, hiện nay chưa xác định được tên, tuổi và địa chỉ của các đối tượng này nên cơ quan điều tra đã ra quyết định tách hồ sơ liên quan đến các đối tượng này để xác minh, xử lý sau.

Cơ quan điều tra Công an huyện CK đã quyết định trưng cầu giám định số 63 ngày 19/5/2020 trung cầu Viện khoa học kỹ thuật hình sự Bộ công an giám định đối với đoạn video mà quần chúng nhân dân đã giao nộp liên quan đến hành vi đánh bạc ngày 20/9/2019.

Tại kết luận giám định số 2970/C09-P6 ngày 18/6/2020 của Viện kỹ thuật hình sự Bộ công an kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tệp video gửi đến giám định: Đã mô tả hành động của các đối tượng và chuyển đổi giọng nói ra văn bản.

Kèm theo kết luận giám định gồm: 01 phụ lục giám định gồm 06 trang A4;

01 bản dịch nội dung gồm 06 trang giấy A4,

Hoàn lại đối tượng giám định: Hoàn lại Cơ quan CSĐT Công an huyện CK, tỉnh Phú Thọ toàn bộ mẫu vật gửi đến giám định.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CK đã quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 01 ngày 18/6/2020 tại Viện khoan học kỹ thuật hình sự Bộ công an giám định: Thời gian trong đoạn video; trên mặt bàn và trên tay của những người có trong video có đặt, cầm các tờ tiền không?có các tờ tiền mệnh giá bao nhiêu? Tổng mệnh giá khoảng bao nhiêu tiền?Hình ảnh vật màu trắng đặt trên mặt bàn trong đoạn video gửi đến giám định có phải điện thoại thông minh có màn hình cảm ứng không?Nhãn hiệu gì?

Tại kết luận giám định số 4010/C09-P6 ngày 15/7/2020 của Viện kỹ thuật hình sự - Bộ công an kết luận:

Tập tin video VTS - 01 - 1.vob gửi đến giám định có ghi lại hình ảnh có tờ giống tờ tiền nằm trên mặt bàn và bàn tay của một số người xung quanh chiếc bàn.

Trên mặt bàn và trong bàn tay của những người ở xung quanh chiếc bàn có một số tờ giống tờ tiền và tổng mệnh giá của những tờ giống tờ tiền này được xác định trong phụ lục kèm theo.

Hình ảnh vật màu trắng ký hiệu “DD” trong phụ lục kèm theo kết luận giám định giống điện thoại di động thông minh màn hình cảm ứng, không xác định được nhãn hiệu gì.

Kèm theo kết luận giám định:

01 phụ lục gồm 04 trang A4.

Hoàn lại đối tượng giám định.

Hoàn lại cơ quan CSĐT Công an huyện CK, tỉnh Phú Thọ toàn bộ mẫu vật gửi đến giám định:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CK đã có quyết định trưng cầu giám định số 63 ngày 19/5/2020 trung cầu Viện khoa học kỹ thuật hình sự Bộ công an giám định 01 chiếc điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO mặt trước màu trắng, mặt sau màu vàng đồng (mẫu so sánh) có xuất hiện trong hình ản của các tập tin vi deo gửi giám định không? Nếu có thì xuất hiện tại thời gian nào của các tập video?

Tại kết luận giám định số 5371/C09-P6 ngày 17/8/2020 của Viện kỹ thuật hình sự - Bộ công an kết luận, do mẫu cần giám định có chất lượng kém nên không đủ cơ sở để xác định chiếc điện thoại di động (mẫu so sánh) có xuất hiện trong các tập tin video gửi giám định không.

Cáo trạng số 49/CT-VKSCK ngày 14/9/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện CK, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo về tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Ngày 25/11/2020, Hội đồng xét xử sư thẩm trả hồ sơ điều tra bổ sung để làm rõ: Xác định mối liên hệ thời gian ngày 18/4/2016 ghi trong clip và thời gian đánh bạc xảy ra ngày 20/9/2019; Trưng cầu chiếc điện thoại Hoàng Mạnh H giao nộp để xác định việc tải ứng dụng đánh bạc; hình thức đánh bạc và thời gian tải phần mềm ứng dụng và có việc tạm giữ đối với T, Vinh, Huy, Tuấn, Ngọc, Trường và Phúc hay không?

Tại quyết định số 06 ngày 30/11/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CK, tỉnh Phú Thọ đã trưng cầu giám định: Đối với thiết bị hình ảnh gửi giám định có phải là thiết bị ghi hành ảnh vi deo trong đĩa DVD mẫu vật gửi giám định không? Thời gian khởi tạo video trong đĩa DVD mẫu vật gửi giám định. Lý do thời gian trong video trong đĩa DVD là ngày 18/4/2016 và giám định điện thoại di đồng là mẫu vật gửi giám định có tải được phầm mềm đánh bạc không? Trong điện thoại có phần mềm đánh bạc không?Thời gian tải phầm mềm đánh bạc trong điện thoại?.

Tại mục V. Kết luận giám định số 9520/C09-P6 ngày 02/02/2021 đã kết luận:

- Không xác định được thiết bị ghi hình dang camera cúc áo gửi giám định có phải là thiết bị ghi hình ảnh video trong đĩa DVD - R mẫu gật gửi giám định hay không.

- Không xác định được thời gian khởi tạo của 02 tệp tin video lưu trong đĩa DVD - R gửi giám định;

- Thời gian hiển thị trong nội dung các tệp video lưu trong đĩa DVD-R gửi giám định là ngày 18/4/2016, do thời gian trên được thiết lập bởi thời gian hệ thống (cài đặt của thiết bị camera cúc áo gửi giám định).

Điện thoại nhãn hiệu OPPO gửi giám định đã tải và được cài đặt 279 ứng dụng trong đó có 16 ứng dụng trò chơi:

Không đủ cơ sở để xác định được các ứng dụng trên có phải là ứng dụng đánh bạc hay không. Không xác định được thời gian tải các ứng dụng trên.

Tại công văn số 58/CV-ĐTHS ngày 04/02/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CK trả lời rõ không có việc tạm giữ đối với tất cả các bị cáo từ ngày 23/9/2019 đến ngày 24/9/2019.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 40/2021/HSST ngày 23/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện CK, tỉnh Phú Thọ đã:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Hoàng Mạnh H,

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn MC;

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn T;

Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn T B;

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T; Hoàng Mạnh H; Nguyễn T B; Nguyễn MC đều phạm tội đánh bạc.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn T B 07 (Bẩy) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh H 07 (Bẩy) tháng tù. Trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 13/8/2020 đến ngày 02/11/2020. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn MC 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày đi chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên phạt các bị cáo khác, tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn T B, Hoàng Mạnh H, Nguyễn MC, Lê Hữu Phúc, Nguyễn Văn Đăng, Nguyễn Anh Quang, Hoàng Kim Ngọc, Nguyễn Quốc Huy, Trần Xuân Trường đều có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.

Trước khi xét xử phúc thẩm, các bị cáo Lê Hữu Phúc, Nguyễn Anh Quang, Nguyễn Quốc Huy, Nguyễn Văn Đăng, Hoàng Kim Ngọc, Trần Xuân Trường đã có văn bản về việc rút toàn bộ kháng cáo. Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo này.

Các bị cáo Hoàng Mạnh H, Nguyễn MC thay đổi nội dung kháng cáo, cho rằng bản án sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn T B giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự. Không chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn T B. Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo T và B.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự. Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Hoàng Mạnh H và Nguyễn MC. Áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H; Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H và bị cáo C. Giữ Nguyên hình phạt 07 tháng tù đối với bị cáo H, 06 tháng tù đối với bị cáo C, nhưng cho 02 bị cáo được hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách gấp đôi đối với 02 bị cáo.

- Các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn T B có quan điểm tranh luận: Không đồng ý với bản luận tội của Kiểm sát viên, cho rằng cơ quan điều tra đã có vi phạm trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ; thời gian đánh bạc của các bị cáo là sai lệch so với thời gian thực tế; Số tiền đánh bạc thực tế của bị cáo Nguyễn Văn T là 1.800.000 triệu đồng, chứ không phải 4.300.000 đồng như bản cáo trạng đã truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định được xem xét, giải quyết.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Mạnh H và bị cáo Nguyễn MC khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện CK, tỉnh Phú Thọ đã truy tố, không oan sai. Lời khai của các bị cáo phù hợp với vật chứng thu được cũng như lời khai của các bị cáo khác, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử xét thấy có sự phù hợp giữa lời khai ban đầu của tất cả các bị cáo tại Cơ quan điều tra với lời khai của các bị cáo Nguyễn Thiết H, Trần Anh Tuấn, sinh năm 1984, Nguyễn Đình Vinh, Trần Anh Tuấn, sinh năm 1982 trong suốt quá trình tố tụng vụ án.

Các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn T B không đồng ý với quan điểm của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn T B tại phiên tòa phúc thẩm không thống nhất với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra và truy tố nên không có căn cứ để xem xét giải quyết.

Căn cứ vào kết quả tranh luận đã được làm rõ tại phiên tòa sơ thẩm và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai ban đầu của tất cả các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 13h00 ngày 20/9/2019, các bị cáo Hoàng Mạnh H, Hoàng Kim Ngọc, Lê Hữu Phúc, Nguyễn Anh Quang, Nguyễn Đình Vinh, Nguyễn MC, Nguyễn Quốc Huy, Nguyễn T B, Nguyễn Thiết H, Trần Anh Tuấn, sinh năm 1984, Nguyễn Văn Đăng, Nguyễn Văn T, Trần Xuân Trường, Trần Anh Tuấn, sinh năm 1982 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa với số tiền cụ thể như sau: Hoàng Mạnh H có 200.000đồng; Hoàng Kim Ngọc có 300.000đồng; Lê Hữu Phúc có 200.000đồng; Nguyễn Anh Quang có 400.000đồng; Nguyễn Đình Vinh có 100.000đồng; Nguyễn MC có 200.000đồng; Nguyễn Quốc Huy có 300.000đồng; Nguyễn T B có 200.000đồng; Nguyễn Thiết H có 150.000đồng; Trần Anh Tuấn, sinh năm 1984 có 200.000đồng; Nguyễn Văn Đăng có 200.000đồng; Nguyễn Văn T có 4.300.000đồng; Trần Xuân Trường có 100.000đồng; Trần Anh Tuấn, sinh năm 1982 có 150.000đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.000.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nội dung kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bản án sơ thẩm đã xem xét toàn diện tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo để tuyên phạt các bị cáo mức án phù hợp, đúng pháp luật.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại về phần số tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm là không thống nhất. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành tố tụng, cho bị cáo đối chất công khai với nhân chứng là chị Hà Thị Minh, do bị cáo đưa đến. Kết quả đối chất không xác định được số tiền chị Minh đã nhận của bị cáo T, do đó không xác định được số tiền bị cáo đã sử dụng cho mục đích khác ngoài đánh bạc. Vậy nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo T.

Đối với bị cáo Nguyễn T B kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại về thời gian bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo B và lời khai của các bị cáo khác tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đã thể hiện rõ hành vi đánh bạc của mình vào chiều ngày 20/9/2019. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo B.

Đối với bị cáo Hoàng Mạnh H và Nguyễn MC kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin cải tạo ngoài xã hội. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, các bị cáo đã cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới đó là Công văn của Ủy ban nhân dân thị trấn CK đề nghị xem xét cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương; Giấy khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn CK trao tặng vì thành tích xuất sắc trong phong trào Toàn dân chung tay phòng chống dịch bệnh Covid 19 năm 2021. Ngoài ra, trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã có đơn gửi Toàn án tỉnh và Viện kiểm sát tỉnh thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của mình. Hội đồng xét xử xét thấy đây là các tình tiết mới để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Mạnh H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đủ điều kiện để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Hoàng Mạnh H và Nguyễn MC có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. UBND thị trấn CK nơi các bị cáo cư trú có đơn và xác nhận đề nghị cho các bị cáo cải tạo tại địa phương và sẽ có trách nhiệm giám sát, giáo dục đối với các bị cáo trong thời gian cải tạo tại địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể để bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và địa phương một thời gian cũng đủ điều kiện giúp bị cáo cải tạo thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa một phần Quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hoàng Mạnh H, Nguyễn MC, cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm:

Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn T B không được chấp nhận nên các bị cáo T, B phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Kháng cáo của các bị cáo Hoàng Mạnh H, Nguyễn MC được chấp nhận nên các bị cáo H, C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị hoặc có kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo và ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn T B. Giữ nguyên quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2021/HSST ngày 23 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện CK, tỉnh Phú Thọ đã tuyên đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn T B.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Mạnh H, Nguyễn MC. Sửa quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2021/HSST ngày 23 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện CK, tỉnh Phú Thọ về hình phạt đã tuyên đối với các bị cáo Hoàng Mạnh H, Nguyễn MC.

[2] Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn T.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn T B.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Hoàng Mạnh H.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn MC.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T; Hoàng Mạnh H; Nguyễn T B; Nguyễn MC phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn T B 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh H 07 (Bảy) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên bản án phúc thẩm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn MC 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên bản án phúc thẩm.

Giao các bị cáo Hoàng Mạnh H, Nguyễn MC cho Ủy ban nhân dân thị trấn CK, huyện CK, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình các bị cáo Hoàng Mạnh H, Nguyễn MC có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo Hoàng Mạnh H, Nguyễn MC.

Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo Hoàng Mạnh H, Nguyễn MC cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp các bị cáo Hoàng Mạnh H, Nguyễn MC thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm:

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn T B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các bị cáo Hoàng Mạnh H, Nguyễn MC không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ