- Tranh chấp gì? "Bị cáo Phạm Văn S phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 87/2022/HS-PT Ngày 26 tháng 10 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ T
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Vũ
Các thẩm phán:
Ông Hoàng Tiến Dũng
Ông Phạm Văn Toàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Việt Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân ỉnh Phú Ttham gia phiên tòa: Ông Vũ Công Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Tđưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2022 do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn S đối với bản án hình sơ thẩm số 41/2022/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh S, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo kháng cáo:
Phạm Văn S, sinh ngày: 13/7/1983; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Tổ 5, phường Đồng T, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa B; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; -Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Phạm Văn S, sinh năm 1956; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị S1, sinh năm 1953; Vợ: Phạm Lê P, sinh năm 1983 (đã ly hôn); Con: Phạm S Nam, sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không .
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/4/2022 đến ngày 13/4/2022 sau đó chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Phú T(có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Huy N- Sinh năm 17/6/2004,
Địa chỉ: Khu Trung Thịnh- xã Yên L- huyện Thanh S- tỉnh Phú T(không triệu tập).
N DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, N dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 08/4/2022, tại Nhà nghỉ Đa Hương thuộc khu Gò Đa, xã Hương C, huyện Thanh S, tỉnh Phú Thọ, Công an huyện Thanh S kiểm tra hành chính đối với Phạm Văn S và Lê Huy N. Quá trình kiểm tra phát hiện tại túi quần phía trước bên trái đang mặc của Phạm Văn S 01 gói nilon màu trắng, viền xanh có khuy bấm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 gói nilon màu trắng, viền xanh có khuy bấm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu hồng. S tự khai đây là ma túy mang theo với mục đích để sử dụng. Thu giữ của S 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng đã cũ gắn số điện thoại 0946.335.533; 01 ví giả da màu nâu đã cũ bên trong có 200.000 đồng và 10 vỏ nilon. Thu giữ của Lê Huy N 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280 màu xanh đen đã cũ gắn số điện thoại 0357.340.410. Công an huyện Thanh S đã niêm phong 02 gói nilon thu giữ của S, tạm giữ các đồ vật tài sản và đưa Phạm Văn S, Lê Huy N về trụ sở Công an huyện Thanh S làm việc.
Cơ quan điều tra đã tiến hành Test thử nhanh chất ma túy đối với Phạm Văn S và Lê Huy N, kết quả Phạm Văn S dương tính với chất ma túy; Lê Huy N âm tính với chất ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 476/KL-KTHS ngày 11/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Tkết luận: “Chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu hồng chứa bên trong 02 gói nilon thu giữ của S gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,692 gam”.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Phạm Văn S khai nhận đã quen Lê Huy N từ trước do cùng mua bán hoa Lan. S và N đều biết nhau có sử dụng ma túy. Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 08/4/2022, N gọi điện cho S nhờ mua hộ 1.000.000 đồng ma túy đá để sử dụng. Đến 13 giờ cùng ngày, N đi taxi đến đón S ở nhà S tại tổ 5, phường Đồng T, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa B. Khi đón được S, N đưa cho S 1.000.000 đồng để S mua ma túy hộ. S dùng mạng xã hội facebook liên hệ với một người đàn ông tên Tân để mua ma túy. Sau đó, S đi đến ngõ “Xổ Số” thuộc phường Đồng T, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa B gặp người đàn ông tên Tân. S đưa cho người đàn ông này số tiền 1.000.000 đồng, người đàn ông này đưa cho S 02 gói nilon trong đó 01 gói nilon màu trắng, viền xanh có khuy bấm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 gói nilon màu trắng, viền xanh có khuy bấm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu hồng và trả lại cho S 200.000 đồng. S cất ma túy vào túi quần đang mặc và cất tiền vào ví. Sau khi mua được ma túy, N mời S xuống huyện Thanh S chơi và cùng sử dụng ma túy. S đồng ý và cùng với N đi taxi đến nhà nghỉ Đa Hương thuộc xã Tinh Nh, huyện Thanh S để sử dụng ma túy thì bị kiểm tra, phát hiện như đã nêu trên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 41/2022/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh S, tỉnh Phú Tđã quyết định:
Áp dụng: Điểm c, khoản 1 Điều 249; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Phạm Văn S 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 08/4/2022 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bản án còn tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo, trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác đúng quy định của pháp luật.
Ngày 29/8/2022, bị cáo có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên N dung kháng cáo. Khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thể hiện thái độ ăn năn hối cải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Ttrình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật hình sự. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2022/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh S, tỉnh Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở N dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định được xem xét, giải quyết.
Về N dung vụ án: Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị cáo đều khai nhận đã có hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định:
Hồi 14 giờ 40 phút ngày 08/4/2022, tại nhà nghỉ Đa H thuộc khu Gò Đa, xã Tinh Nh, huyện Thanh S, tỉnh Phú Thọ, Phạm Văn S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,692 gam ma túy, loại Methamphetamin với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi đó của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để tuyên phạt bị cáo 36 tháng tù. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên là tình tiết mới để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo do vậy là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2022/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh S, tỉnh Phú Thọ.
[2] Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Phạm Văn S 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 08/4/2022 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[3] Về án phí: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - VKSND tỉnh Phú Thọ; - TAND huyện Thanh S; - VKSND huyện Thanh S; - Công an huyện Thanh S; - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Th;. - Chi cục THADS huyện Thanh S; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Lưu HS; Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Vũ |