- Tranh chấp gì? "Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: /2021/HS-ST Ngày: 28/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Giới
Bà Nguyễn Thị T Hà
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hồ Thị Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2021/TLST – HS ngày 29 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Thị T; sinh năm 1986, tại Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 07/12; con ông Đỗ Khắc V, sinh năm 1962 và con bà Đỗ Thị X, sinh năm 1960; HKTT: Thôn Phú Cường, xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước. Tiền án: ngày 2 /01/2019, bị TAND tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội trộm cắp tài sản theo bản án 12/2019/HS-PT; Tiền sự: ngày 03/11/2020, bị UBND thị xã Phước Long ra quyết định xử phạt hành chính 0.000.000 đồng về hành vi “buôn bán hàng cấm” theo Quyết định số 1568/QĐ-XPVPHC. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/06/2021 đến ngày 11/11/2021 được Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh, (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Đỗ Thị T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Ngày 10/5/2021, Đỗ Thị T đi giao hàng bánh, kẹo tại xã Đa Kia, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước thì gặp một người đàn ông tên Tú (không rõ nhân thân, lai lịch). Qua nói chuyện, T biết Tú bán Thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO với giá 150.000 đồng/cây nên T nảy sinh ý định mua hàng của Tú rồi bán lại cho các đại lý, tiệm tạp hóa để kiếm lời. T đặt mua 75 cây thuốc nhãn hiệu HERO, mỗi cây gồm 10 bao, mỗi bao gồm 20 điếu, tổng cộng là 750 bao Thuốc lá với giá 11.250.000 đồng và thỏa thuận sau khi T bán hết hàng thì trả tiền cho Tú. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 13/5/2021, khi T đang ở nhà anh Nguyễn Văn P tại thôn N, xã P, huyện R, tỉnh B thì Tú gọi điện thoại nói T ra lấy thuốc lá, khi T ra mở cổng thì thấy có 02 thùng giấy carton bên trong có thuốc lá nên đem vào nhà cất giấu.
Vào khoảng 13 giờ 5 phút, ngày 14/5/2021, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, biển số 93P1 – 692.15 chở 02 thùng giấy carton bên trong có 75 cây thuốc lá hiệu Hero xuống thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước để tìm nơi tiêu thụ, khi T lưu thông đến ấp Thuận Hòa 2, xã L, huyện Đ, tỉnh B thì bị Công an huyện Đồng Phú kết hợp Công an xã Thuận Lợi kiểm tra, phát hiện và lập biên bản. (bút lục 29, 51 – 58, 73 – 76)
Theo công văn số 1067/SCT-TM ngày 28/5/2021 của Sở Công Thương tỉnh Bình Phước, xác định: Số lượng tang vật được kiểm tra: 750 bao Thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO loại 20 điếu/bao. Xác định nguồn gốc: Số thuốc lá trên không có tem nhập khẩu, không in hình cảnh báo sức khỏe và chữ viết Tiếng việt. Toàn bộ số thuốc lá nêu trên không đủ điều kiện nhập khẩu và lưu thông tại thị trường Việt Nam.
Tại bản Cáo trạng số: 91/CT-VKS ngày 25/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Đỗ Thị T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm e, khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm e, khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h, khoản 1 Điều 52, các điều 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Đỗ Thị T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”và xử phạt bị cáo T mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy 75 cây (750 bao) Thuốc lá Hero; tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô biển số 93P2 – 692.15 hiệu Future màu đỏ đen và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, có gắn 01 sim điện thoại số 098300 909
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định trên nên được xác định là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng T giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Đỗ Thị T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Buôn bán Thuốc là điếu nhập lậu” chưa chấp hành nộp phạt theo Quyết định số 1568/QĐ-XPVPHC ngày 03/11/2021 của Ủy ban nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước nhưng ngày 10/5/2021, bị cáo Đỗ Thị T lại tiếp tục có hành vi mua bán 750 bao Thuốc lá (75 cây Thuốc lá, mỗi cây gồm 10 bao, mỗi bao gồm 20 điếu) nhãn hiệu HERO, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không có tem nhập khẩu, không in hình cảnh báo sức khỏe, không có chữ viết bằng tiếng Việt (thuộc danh mục hàng không đủ điều kiện nhập khẩu và lưu thông tại thị trường Việt Nam) và bị bắt quả tang khi đang trên đường đi tiêu thụ tại địa phận xã L, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm e, khoản 1, Điều 190 Bộ luật hình sự.
Hành vi mà bị cáo Đỗ Thị T đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, khách thể dược pháp luật bảo vệ.
3 Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người hoàn toàn bình thường, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo nhận thức được thuốc lá là một trong những mặt hàng được nhà nước quản lý rất chặt chẽ, tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người là rất lớn, nhất là những mặt hàng thuốc lá không rõ nguồn gốc xuất xứ, hàng nhập lậu. Bị cáo biết rõ đâu là thuốc lá nhập lậu nhưng vẫn mua về để bán kiếm lời. Số lượng thuốc lá nhập lậu mà bị cáo mua bán dưới 1.500 bao nhưng bản thân đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này chưa chấp hành nộp phạt mà còn vi phạm nên hành vi cấu thành tội phạm và là tình tiết định khung hình phạt tại điểm e, khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự. Bản thân bị cáo có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới, đây là tình tiết tăng nặng hình phạt “tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự. Lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học sâu sắc cho bản thân mình nhưng vì chút lợi cá nhân mà bị cáo vẫn thực hiện hành vi như đã nêu ở trên thể hiện sự coi thường pháp luật. Xét cần tuyên xử bị cáo một mức án nghiêm, tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thị T không có thu nhập ổn định và là mẹ đơn thân đang nuôi con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có một tình tiết tăng nặng “Tái phạm”; Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là mẹ đơn thân nuôi con nhỏ đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Đỗ Thị T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật và để nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 75 cây (750 bao) thuốc lá điếu hiệu Hero, là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, nên cần áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 93P2 – 692.15 hiệu Future màu đỏ đen và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, có gắn 01 sim điện thoại Viettel số 098300 909 là tài sản hợp pháp của bị cáo T, bị cáo T sử dụng làm phương tiện, công cụ phạm tội, nên cần áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên Tú (theo lời khai của T) là người đã bán thuốc lá điếu nhập lậu cho T (theo lời khai của T). Cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên tách ra xác minh, xử lý sau Viện kiểm sát không đề cập đến việc xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Nguyễn Văn P theo lời khai của bị cáo T, Tú giao thuốc lá tại cổng nhà P nhưng phương không biết đó là thuốc lá nhập lậu nên Viện kiểm sát không đề cập và Hội đồng xét xử không xem xét.
7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Thị T phải chịu theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
2.Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, Điều 51; các điều 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị T
(một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/06/2021 đến ngày 11/11/2021.
3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:
Tịch thu tiêu hủy 75 cây (750 bao) thuốc lá điếu hiệu Hero.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) xe mô tô biển số 93P2 – 692.15 hiệu Future màu đỏ đen và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, có gắn 01 sim điện thoại Viettel số 098300 909.
4.Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Đỗ Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo Đỗ Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Phước (01 bản); -VKSND tỉnh Bình Phước (01 bản); - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Phước (01) - TTLLTP- Sở TP tỉnh Bình Phước (01) - VKSND huyện Đồng Phú (01 bản); - THADS huyện Đồng Phú (01 bản); - CA huyện Đồng Phú (03 bản); - Bị cáo (01 bản); - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hương |