vanban.org

Bản án 87/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 14/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2025. Tiếp tục giam bị cáo để hỗ trợ công tác thi hành án. Tịch thu tiêu huỷ 02 bì thư niêm phong đề Công an thành phố Hà Nội, tên đối tượng Nguyễn Văn T sinh năm 1989, HKTT: Hội Xá, Hương Sơn, TP Hà nội. Ngày niêm phong 20/12/2025. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - Mua bán trái phép chất ma tuý - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰ 12 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87 /2026/HS ST
Ngày: 14/4/2026.
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Phong.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Phương Mai và ông Phạm Văn Hùng.

- Ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Mai – Thư ký Tòa án.

- Đại diện VKSND tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh – Kiểm sát viên.

Mở phiên tòa ngày tháng 4 năm 2026 tại trụ sở, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2026/TLST - HS ngày 27 tháng 3 năm 2026 đối với:

Bị cáo Nguyễn Văn T - Sinh năm 1989; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú và cư trú tại: thôn H, xã Hn, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn T; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Th; Vợ là Tòng Thị C ( đã ly hôn ), đã có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 03/6/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Hà Nội, xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 26/7/2020. (Đã được xoá án tích);

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2025 đến này. Hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn Tiến – Sinh năm 1982; Trú tại: Thôn Du Đồng, xã Ứng Hoà, TP Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Cáo trạng của VKSND và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 20/12/2025 Nguyễn Văn Tiến sử dụng số điện thoại: 0815095867 gọi đến số điện thoại: 0989.187.128 của Nguyễn Văn T hỏi mua 500.000đ ma túy. T đồng ý bán và hẹn gặp Tiến giao ma túy tại khu Dốc Bồ, thôn Thanh Bồ, xã Hòa Xá, Hà Nội. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh đen, BKS: 29Y3-091.97 đến khu vực Trạm y tế xã Vân Đình gặp và nhờ một người bạn nghiện không rõ danh tính, địa chỉ mua hộ 1.000.000 đồng ma túy loại Heroine. Người này đồng ý, cầm tiền đi khoảng 15 phút thì quay lại đưa cho T 02 gói ma túy bọc bằng giấy. Sau khi mua được ma tuý, T mang ra cánh đồng chia 02 gói ma túy vừa mua thành 04 gói nhỏ để bán lại kiếm lời.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, T đến địa điểm hẹn gặp và nhận của Tiến 500.000đ sau đó đưa cho Tiến 01 gói ma túy. Khi cả hai đang thực hiện việc mua bán ma tuý thì bị Tổ Công tác Công an xã Hòa Xá, thành phố Hà Nội đang tuần tra kiểm soát gần đó phát hiện, Tiến liền vứt gói ma túy vừa mua trên đường bỏ chạy còn T thì tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an số tiền 500.000đ ( là tiền bán ma túy cho Tiến ) và 03 gói ma túy còn lại bên trong đều chứa chất bột màu trắng nghi là ma tuý loại Heroin. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng gửi đi giám định, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T và đưa cả Tiến và T về Công an xã làm việc.

Ngay sau đó, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hà Nội đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T nhưng không phát hiện thu giữ gì.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải Tiến để xác định vị trí gói ma túy mà Tiến vứt trong lúc bỏ chạy nhưng không tìm thấy. Xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu của Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Tiến cho kết quả: âm tính với ma túy.

Tại Bản Kết luận giám định số 9232/KL-KTHS ngày 29/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội, kết luận:

- Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy đều là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,220gam.

- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói bằng tờ tiền mệnh giá 5.000 VNĐ là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,090gam.

- Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T thu ngày 20/12/2025 không tìm thấy chất ma tuý.

Tại bản Cáo trạng số 36/CT - VKS ngày 26/3/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12-Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T ra trước tòa để xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân giữ nguyên quan điểm về tội danh, điều luật áp dụng theo nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm s Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 251, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 4 năm đến 4 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2025; Đề nghị xử lý vật chứng của vụ án; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tranh luận tại phiên tòa:

Bị cáo xác nhận việc bị truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma tuý là đúng và không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo là thừa nhận tội lỗi và đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Viện kiểm sát nhân dân, của Điều tra viên và Kiểm sát viên cùng những người tiến hành tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, T tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan và của người tiến hành tố tụng.. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phần lớn phù hợp với nội dung kết luận của cơ quan điều tra, Cáo trạng của Viện kiểm sát, với lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quản tang; Biên bản niêm phong và tạm giữ đồ vật, tài liệu; Phiếu phân tích sơ bộ; Kết luận giám định... Chứng tỏ đã có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 20/12/2025, tại thôn Thanh Bồ, xã Hòa Xá, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma tuý, loại Heroine cho Nguyễn Văn Tiến với giá 500.000 đồng thì bị bắt quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Văn T 03 gói ma tuý, loại Heroine có tổng khối lượng là 0,310 gam mục đích để bán kiếm lời.

Với hành vi nêu trên, việc Nguyễn Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hà Nội truy tố ra trước Tòa để xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật. Tội danh và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma tuý, reo rắc chết chóc, bệnh tật, tệ nạn xã hội cho người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an địa phương... khiến dư luận bất bình, đòi hỏi phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự với một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện mới đủ sức răn đe riêng và phòng ngừa chung.

Do bị cáo năm 2019 đã từng bị xử phạt tù về tội ma tuý, nay tiếp tục phạm tội nghiêm trọng với lỗi cố ý chứng tỏ sự bất chấp và coi thường pháp luật. Vì vậy, cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giúp bị cáo thấm thía về tội lỗi của mình mà ăn năn hối cải về sau.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Lượng hình cần xem xét bị cáo trong quá trình tố tung thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt để chứng tỏ sự nhân đạo của Pháp luật.

Về các vấn đề liên quan:

Đối với người đàn ông mua hộ ma tuý cho Nguyễn Văn T ngày 20/12/2025. Quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của đối tượng. Ngoài lời khai của T thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh. Do vậy, Cơ quan điều tra không có đủ có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.

Đối với Nguyễn Văn Tiến là người mua ma tuý của Nguyễn Văn T ngày 20/12/2025. Quá trình kiểm tra bắt giữ, Nguyễn Văn Tiến bỏ chạy và ném mất gói ma túy mua được của T. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy số ma tuý này. Xét nghiệm nước tiểu của Nguyễn Văn Tiến cho kết quả âm tính với ma túy. Do vậy, hành vi của Nguyễn Văn Tiến chưa đủ căn cứ cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Cơ quan điều tra đã ra Công văn đề nghị UBND xã Ứng Hoà đưa Tiến vào diện quản lý theo quy định là phù hợp.

- Do bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, bản thân không có tài sản riêng, giá trị thu lợi không lớn… nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo:

- Về xử lý vật chứng:

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu xanh đen bạc, BKS: 29Y3 - 091.97. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thiện ( Mẹ đẻ của Nguyễn Văn T). Bà Thiện cho T mượn xe làm phương tiện đi lại. Bà Thiện không biết T sử dụng chiếc xe trên đi mua và bán ma tuý. Do đó, ngày 16/3/2026, Cơ quan điều tra đã trả lại bà Nguyễn Thị Thiện chiếc xe nêu trên là có căn cứ.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen lắp sim số 0989187128 thu giữ của Nguyễn Văn T và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen lắp sim số 0815095867 thu giữ của Nguyễn Văn Tiến đều là phương tiện liên lạc để thực hiện tội phạm hiện còn giá trị sử dụng nên tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.

Số tiền 500.000đ là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu xung quỹ nhà nước.

Số ma tuý hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.

- Về án phí: Ngoài hình phạt, bị cáo còn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

- Bị cáo, Người có quyển lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS, xử:

Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2025. Tiếp tục giam bị cáo để hỗ trợ công tác thi hành án.

3. Áp dụng điểm a, b, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,b, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

- Tịch thu tiêu huỷ 02 bì thư niêm phong đề Công an thành phố Hà Nội, tên đối tượng Nguyễn Văn T sinh năm 1989, HKTT: Hội Xá, Hương Sơn, TP Hà nội. Ngày niêm phong 20/12/2025. Mặt bên của phong bì có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng Quân, cán bộ Nguyễn Mạnh Cường, đối tượng Nguyễn Văn T và hình dấu tròn của Công an xã Hoà Xá tại mép niêm phong ( phong bì niêm phong không kiểm tra bên trong ).

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 500.000đ ( Năm trăm ngàn đồng ) tiền do bị cáo phạm tội mà có;

- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà Nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen đã cũ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ ( đều không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong máy ) .

Toàn bộ tang vật hiện đang lưu trữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Hà Nội theo Phiếu uỷ nhiệm chi và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/4/2026.

4. Áp dụng Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ®Þnh vÒ mức thu, miÔn, gi¶m, thu nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hạn luật định;

Cỡ chữ