vanban.org

Bản án 87/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 27/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/3/2026. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau: 01 (một) túi vải màu đen, viền miệng túi màu xanh được niêm phong trong túi niêm phong có ký hiệu NS3, số 24138695 (đã qua sử dụng); 01 (một) phong bì hoàn mẫu đã… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2026/HS-ST
Ngày 27 – 7 – 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Hoài Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Xuân Minh.

Bà Trương Thanh Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Vũ Phong – Là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Kil - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2026/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh ngày 22 tháng 5 năm 1989 tại tỉnh Cà Mau; Căn cước công dân số 096089015533, nơi cấp: Cục C06-BCA; nơi cư trú: Ấp Tham T, xã K, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Thinh và bà Phạm Thị Ánh (đã chết); có vợ Hồ Như Ý (đã ly hôn) và 01 người con; tiền sự: 01 lần. Ngày 08/4/2025, bị Công an xã Khánh Bình Đ (nay là Công an xã K) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền phạt là 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong quyết định vào ngày 09/4/2025; tiền án: Không; nhân thân: không có án tích nhưng vào ngày 30/5/2011, bị Công an huyện Trần Văn Thời ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc; bị bắt vào ngày 25/3/2026 trong trường hợp phạm tội quả tang và chuyển tạm giữ, tạm giam cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 25/3/2026, Công an xã Sông Đốc phối hợp cùng Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 4 tuần tra tại khu vực ấp Vàm Xáng, xã Sông Đốc thì phát hiện H có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra phát hiện và thu giữ bên trong dây kéo quần Jeans dài phía trước mà H đang mặc có 01 (một) túi vải thun màu đen, viền miệng màu xanh, bên trong có: 01 (một) bịch nilon màu trắng, viền miệng màu đỏ được bóp kín, bên trong có các hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn và 01 (một) bịch nilon màu trắng, viền miệng màu trắng được bóp kín, bên trong có các hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn nghi là ma túy nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tiến hành thu giữ và niêm phong kín vật chứng trên trong phong bì thư hình chữ nhật.

Tại Kết luận giám định số: 263/KL-KTHS ngày 30/3/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 02 (hai) bọc nilon màu trắng được bóp kín miệng. Niêm phong trong phong bì thư hình chữ nhất giử giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 4,4307 gam. Hoàn lại đối tượng giám định: 3,6657 gam tinh thể màu trắng sau khi giám định và không lưu.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận: Ngày 25/3/2026, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô hiệu Honda mang biển số kiểm soát 69N1-526.94 đến khu vực gần Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cà Mau gặp người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 500.000 đồng ma túy. Sau khi mua được ma túy, H điều khiển xe đi về xã Sông Đốc tìm nơi sử dụng. Khi đến đoạn đường trước nhà trọ Triệu Mẫn thuộc ấp Vàm Xáng, xã Sông Đốc thì bị lực lượng Công an kiểm tra trên người phát hiện một túi vải thun bên trong có cất giấu hai bịch nilon chứa ma túy đá được bỏ bên trong dây kéo quần Jeans dài mà H đang mặc nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong tang vật.

Tại Cáo trạng số: 46/CT-VKSCMU-KV3 ngày 09/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cà Mau đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:

Kiểm sát viên vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn H và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù; Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy mẫu vật được hoàn lại sau khi trích giám định cùng các tài sản khác đã thu giữ.

- Bị cáo trình bày lời bào chữa: Bị cáo thừa nhận việc Công an thu giữ số ma túy được cất giấu trong quần Jeans mà bị cáo đang mặc trên người vào ngày 25/3/2026 là đúng, mục đích bị cáo mua ma túy về để sử dụng nên không có ý kiến hay khiếu nại về kết quả giám định, không khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên nhưng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa về diễn biến thực hiện hành vi tội phạm, đối chiếu kết luận giám định cùng các chứng cứ khác được thu thập, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra có đủ cơ sở để xác định vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 25/3/2026 tại khu vực ấp Vàm Xáng, xã Sông Đốc, tỉnh Cà Mau bị cáo đã và đang cất giữ trái phép chất ma tuý loại methamphetamine có khối lượng 4,4307 gam thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Việc cất giữ chất ma tuý trên của bị cáo là không hợp pháp, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và biết được tác hại của ma tuý nhưng vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hơn nữa, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ theo kết luận giám định thuộc tình tiết tăng nặng định khung hình phạt nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cà Mau truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bởi chính tác hại của ma tuý gây ra ức chế về thần kinh, tạo ảo giác cho người sử dụng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, là mầm móng cho việc lây lan bệnh tật, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội khác. Hơn nữa, bản thân bị cáo đã từng bị Công an huyện Trần Văn Thời xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc vào năm 2011 nhưng do hết thời hạn thi hành quyết định nên không xem xét lần xử phạt trên là tiền sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, đến ngày 08/4/2025, bị cáo lại bị Công an xã Khánh Bình Đ (nay là Công an xã K) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền phạt là 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong quyết định vào ngày 09/4/2025 thế nhưng khi chấp hành xong quyết định, bị cáo không biết cải sửa, tu chí làm ăn mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân không tốt, cần xử lý nghiêm. Dù vậy, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bà nội là Nguyễn Thị Mai được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên áp dụng các tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo là phù hợp.

Với đánh giá nêu tại các đoạn [1], [2] và [3] nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng tuy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu. Hơn nữa, tình hình tội phạm về mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy hiện nay xảy ra ngày càng tăng, mức độ thực hiện tội phạm ngày một tinh vi và thiệt hại do tội phạm gây ra cũng rất nghiêm trọng nên mức hình phạt của Kiểm sát viên đề nghị áp dụng là tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, đảm bảo được tính răn đe, giáo dục và thể hiện được chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải như bị cáo.

Về vật chứng của vụ án, gồm: 01 (một) phong bì hoàn mẫu đã được niêm phong số 263/KL-KTHS ngày 30/3/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, bên trong gồm: 3,6657 gam tinh thể màu trắng và toàn bộ bao gói niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 (một) túi vải màu đen, viền miệng túi màu xanh được niêm phong trong túi niêm phong có ký hiệu NS3, số 24138695 (đã qua sử dụng) - Các vật chứng này không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đen, biển số đăng ký 69N1-526.94 (đã qua sử dụng). Quá trình điều tra xác định được chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn Thinh, việc bị cáo dùng xe trên để đi mua ma túy thì ông Thinh không biết nên ngày 12/6/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau đã giao trả xe lại cho ông Thinh là có căn cứ.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo do không rõ họ tên, địa chỉ nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tách ra, giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và các Điều 106, 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/3/2026.

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau: 01 (một) túi vải màu đen, viền miệng túi màu xanh được niêm phong trong túi niêm phong có ký hiệu NS3, số 24138695 (đã qua sử dụng); 01 (một) phong bì hoàn mẫu đã được niêm phong số 263/KL-KTHS ngày 30/3/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, bên trong gồm: 3,6657 gam tinh thể màu trắng và toàn bộ bao gói niêm phong mẫu vật gửi giám định (theo phiếu nhập kho vật chứng và tài liệu, đồ vật và biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/4/2026 của Phân trại tạm giam Trần Văn Thời, Công an tỉnh Cà Mau).

- Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu số tiền là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng, chưa nộp).

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 8, 9 và 11 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 33 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ