vanban.org

Bản án 87/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 11/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Xử phạt bị cáo Hà Văn L 02 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/11/2025. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn L - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2026/HS-ST
Ngày 11-3-2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hà Thị Thơm.

2. Ông Nguyễn Hữu Thức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thu Quỳnh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2026/TLST - HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Văn L, sinh ngày 01/01/1989 tại xã K, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản M, xã K, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Văn K, sinh năm 1965 và bà: Lò Thị A, sinh năm 1966; vợ: Lường Thị Y, sinh năm 1992; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/11/2025 đến nay, bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Văn L sử dụng ma tuý từ năm 2023. Ngày 03/7/2023, Hà Văn L có đơn tự nguyện tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Trạm y tế xã K, tỉnh Lai Châu và bắt đầu điều trị từ ngày 17/8/2023.

Khoảng 12 giờ ngày 06/10/2025, Hà Văn L đi bộ từ nhà đến bản H, xã C, tỉnh Lào Cai, mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Tại đây, L mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch 01 gói Heroine và 01 viên hồng phiến (Methamphetamine) với giá 230.000 đồng. Mua được ma túy, L mang về phòng tắm dưới gầm sàn nhà của L tại bản Mùi 1, xã K, tỉnh Lai Châu lấy gói Heroine và viên hồng phiến trộn lẫn vào nhau. Sau đó, L lấy giấy bạc trong vỏ bao thuốc lá của L mang theo để làm công cụ sử dụng Heroin. L để H và hồng phiến lên trên mảnh giấy bạc rồi dùng bật lửa gas đốt hơ phía dưới mảnh giấy bạc làm cho Heroine phía trên mảnh giấy bạc bốc khói. L sử dụng hết gói Heroine và viên hồng phiến mua được bằng hình thức hít khói. Sau khi sử dụng xong, L vứt mảnh giấy bạc đi còn bật lửa gas L không nhớ cất giữ ở đâu.

Hồi 07 giờ 45 phút ngày 07/10/2025, Công an xã K, tỉnh Lai Châu phối hợp với Trạm y tế xã Khoen On tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể Hà Văn L, kết quả Hà Văn L “Dương tính”. Công an xã K, tỉnh Lai Châu đã tiến hành lập biên bản sự việc đồng thời thu mẫu nước tiểu của Hà Văn L để trưng cầu giám định chất ma túy làm căn cứ xử lý theo quy định.

Tại bản Kết luận giám định độc chất số: 816/1140/25/KLGDĐC-PYQG ngày 14/10/2025, của V kết luận: “ Trong mẫu nước tiểu thu giữ của Hà Văn L, gửi đến giám định có tìm thấy các chất ma tuý, loại Amphetamin, M, M1, 6-acetylmorphin, M2”.

Tại công văn số 658/PYQG-ĐC, ngày 31/10/2025 của V trả lời Công văn 117 của Công an xã K đề nghị giải thích nội dung liên quan đến Kết luận giám định độc chất số 618/1140/25/KLGDĐC-PYQG ngày 14/10/2025, của V: Heroine khi đưa vào cơ thể sẽ chuyển hoá thành 6-acetylmorphin và M1.

Bản Cáo trạng số 85/CT-VKS, ngày 16/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu để xét xử Hà Văn L về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Hà Văn L là người đang trong thời hạn điều trị nghiện ma tuý bằng thuốc thay thế Methadone tại Trung tâm y tế xã K, tỉnh Lai Châu. Ngày 06/10/2025, tại bản Mùi 1, xã K, tỉnh Lai Châu, Hà Văn L đã có hành vi sử dụng trái phép Methamphetamine và Heroine bằng hình thức hít. Kết quả giám định xác định trong mẫu nước tiểu của Hà Văn L phát hiện có các chất ma túy, loại Amphetamin, M, M1, 6-acetylmorphin, M2. (6-acetylmorphi và M3 là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể).

Bị cáo Hà Văn L là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, mặc dù đang tham gia điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế và bị cáo nhận thức rõ pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy nhưng do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thiếu rèn luyện bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo Hà Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hà Văn L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Quan điểm đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Hà Văn L của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu đối với bị cáo tại phiên toà là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

- Về vật chứng của vụ án: Mẫu nước tiểu của Hà Văn L đã được niêm phong gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật. Đối với chiếc bật lửa ga và giấy bạc khi Hà Văn L sử dụng ma tuý không thu giữ được, do vậy không xem xét xử lý.

- Về nguồn gốc Methamphetamine và H1, bị can Hà Văn L khai mua của một người không rõ nhân thân, lai lịch tại bản Háng Tày, xã C, tỉnh Lào Cai, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tuyên bố bị cáo Hà Văn L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Hà Văn L 02 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/11/2025.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hà Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ