- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Ngọc Nhuận "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2025/HS- PT Ngày: 21/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Văn Bản
Thẩm phán: Ông Đặng Minh Tuân; ông Nguyễn Thế Doanh
- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2025 tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 75/2025/TLPT-HS ngày 22/7/2025 do có kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc Nh đối với bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân thành huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
* Bị cáo có kháng cáo: Vũ Ngọc Nh; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; sinh ngày 10/4/1984. Nơi sinh: huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; Nơi cư trú: Xóm Yên Thủy I, xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Nay là xã Phú Lương tỉnh Thái Nguyên) Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Họ tên cha: Vũ Văn Nh, sinh năm 1947; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1947. Vợ: Vũ Thị Mỹ L, sinh năm 1992; Con: 02 con chung, lớn sinh năm 2016 nhỏ sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị bắt tạm giam tạm giữ. Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư
trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt tại phiên tòa)
Ngoài ra còn có đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị (Tòa không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 26 phút ngày 26/12/2024, Vũ Ngọc Nh (có giấy phép lái xe ôtô theo quy định) điều khiển xe ô tô BKS: 20C - 045.62 đi trên đường Quốc lộ 3 theo hướng Hà Nội - Cao Bằng, trên xe có anh Vũ Đức Đ, sinh năm 1977, cùng xóm với Nh, ngồi ở ghế phụ, khi đi đến Km 90 + 700, đoạn thuộc TDP T A, thị trấn Đ, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên, Nh đã điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ phải vào đường liên xã thị trấn Đ - YL do không chú ý quan sát nên đã đâm va vào xe mô tô BKS: 20E1-360.95 do chị Dương Thị Nh, sinh năm 1994, trú tại xóm K, xã Yên Đ, huyện PL, tỉnh TN điều khiển đang đi hướng Hà Nội - Cao Bằng, làm bánh trước bên phải của xe ô tô đè qua người chị Nh. Hậu quả: Chị Dương Thị Nh tử vong tại hiện trường, phương tiện bị hư hỏng nhẹ.
* Khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra xác định: Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn là đường trải nhựa phẳng, mặt đường rộng 14,9m. Đường cong cua về phía bên trái theo hướng Hà Nội - Cao Bằng. Tiếp giáp mép đường nhựa bên phải đường Quốc lộ 3 hướng Hà Nội - Cao Bằng là đường liên xã TT Đu - Yên Lạc, đầu đường mở rộng là 23,5m, đường dốc thoải lên hướng Đu - Yên Lạc. Thống nhất chọn mép đường nhựa bên phải đường Quốc lộ 3 Hà Nội - Cao Bằng làm điểm đo vuông góc cho toàn bộ vị trí, dấu vết có trên hiện trường. Chọn cột mốc Km 90+700m/QL3 nằm ở lề đường nhựa bên phải đường Quốc lộ 3 theo hướng Hà Nội - Cao Bằng làm điểm mốc cố định cho toàn bộ vị trí, dấu vết tại hiện trường.
- Vị trí số (1) trên hiện trường là vùng mài trượt mặt đường KT: 13x1,1m có màu trắng dạng đứt quãng chiều hướng Đ - YL. Đo vuông góc từ điểm đầu vùng mài trượt ra mép đường nhựa phải là 1,4m, ra mép phải đường nhựa đường Đu - Yên Lạc là 3,0m. Điểm cuối vết trùng với toàn bộ sườn bên phải của xe mô tô BKS: 20E1-360.95.
- Vị trí số (2) trên hiện trường là xe mô tô BKS: 20E1-360.95, xe đang nằm đổ nghiêng bên phải trên mặt đường liên xã Đu - Yên Lạc, đầu xe quay hướng mép đường nhựa phải hướng Đu - Yên Lạc, đuôi xe quay hướng mép đường nhựa bên phải đường Quốc lộ 3 hướng Hà Nội - Cao Bằng. Đo vuông góc từ tâm trục bánh trước, tâm trục bánh sau xe mô tô ra mép đường lần lượt là 5,7m và 4,8m.
- Vị trí số (3) trên hiện trường là xe ô tô BKS: 20C-045.62, xe đang đỗ trên mặt đường liên xã Đu - Yên Lạc. Đầu xe quay hướng Yên Lạc, đuôi xe quay hướng đường quốc lộ 3. Đo vuông góc từ tâm trục bánh trước bên trái, tâm trục bánh sau bên trái ra mép đường bên phải lần lượt là 3,6m và 0,4m. Đo vuông góc từ tâm trục bánh trước bên phải và tâm trục bánh sau bên phải ra mép phải đường nhựa Đu - Yên Lạc lần lượt là 1,8m và 1,9m. Đo vuông góc từ tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô về hướng Yên Lạc đến tâm trục bánh trước xe mô tô BKS: 20E1-360.95 là 1,1m.
- Vị trí số (4) trên hiện trường là vết mài trượt mặt đường kích thước (3,0x0,6)m có màu trắng xám dạng liền chiều hướng Đu - Yên Lạc. Trên bề mặt vết có hỗn hợp vật chất mô da và máu. Đo vuông góc từ điểm đầu vết này vào mép đường nhựa phải đường Quốc Lộ 3 là 0,5m, điểm cuối vết này trùng với mặt lăn tiếp xúc mặt đường của bánh lốp phía sau bên phải của xe ô tô BKS: 20C-045.62.
- Vị trí số (5) trên hiện trường là vùng máu kích thước (0,8x0,4)cm đang nằm trên mặt đường nhựa đường liên xã Đu - Yên Lạc. Đo vuông góc từ tâm vùng này ra mép đường nhựa phải QL3 là 2,5m.
- Vị trí số (6) trên hiện trường là tử thi nữ đang nằm ngửa trên mặt đường liên xã Đu - Yên Lạc. Đầu tử thi quay hướng mép phải đường nhựa Quốc lộ 3 hướng Hà Nội - Cao Bằng. Đo vuông góc từ đầu tử thi vào mép phải đường Quốc lộ 3 là 4,3m. Đo vuông góc từ chân tử thi vào mép đường là 2,7m. Đo vuông góc từ tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô BKS: 20C-045.62 về hướng Hà Nội đến cột mốc Km90+700/QL3 là 23,0m.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô : Xe 20C - 045.62
- Về giấy tờ xe: 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 022586 do Phòng CSGT Công an tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 31/12/2013; 01 giấy phép lái xe hạng D số 190107190844 cấp ngày 20/01/2020 mang tên Vũ Ngọc Nh; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 4087530 cấp ngày 18/12/2024 có hiệu lực đến ngày 17/6/2025;
- Các dấu vết trên phương tiện:
+ Phần mặt trước trục bánh xe phía trước có vùng mài trượt mất bụi KT: (35x08) cm.
+ Đo từ ba đờ sốc bên phải xe đến mặt đất là 80 cm.
- Kỹ thuật an toàn phương tiện:
+ Hệ thống phanh, còi, đèn còn hoạt động.
+ Hệ thông xi nhan còn hoạt động.
+ Các lốp còn hơi. (BL: 64 - 65)
* Khám nghiệm phương tiện xe mô tô BKS: 20E1 - 360.95
- Về giấy tờ xe: 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số 191220014488, mang tên Dương Thị Nh, do Sở giao thông vận tải tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 21/10/2022; 01 đăng ký xe mô tô BKS: 20E1-360.95 số 026770 cấp ngày 16/01/2020 mang tên Triệu Tiến A; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của xe mô tô 20E1-360.95, còn thời hạn đến ngày 07/11/2025.
- Các dấu vết trên phương tiện:
+ Phần nhựa ốp mặt nạ, ốp bảo vệ đèn chiếu sáng phía đầu xe mô tô bị mài trượt, rách gãy nhiều đoạn KT: (09x11)cm.
+ Phần kim loại tay lái bên trái bị đẩy về phía trước cách vị trí ban đầu 10cm.
+ Phần cao su bảo về tay lái bên trái ở phía dưới bị mài trượt cao su KT: (04x02)cm.
+ Mất gương chiếu hậu bên trái, chỉ còn lại thanh kim loại giữ gương.
+ Cánh yếm phải bị mài trượt nhựa KT: (32x16)cm.
+ Phần nhựa ốp dưới khu vực để chân bên phải bị rời khỏi xe.
+ Phần nhựa ớp bảo vệ thân xe bên phải bị mài trượt KT: (40x23)cm.
+ Phần đầu kim loại giữ thanh để chân sau bên phải bị mài trượt KT: (03x2,5) cm.
+ Phần vỏ ốp động cơ bên phải bị mài trượt nhựa KT: (12x06) cm.
+ Phần ống xả bằng kim loại bị mài trượt KT: (29x03)cm.
+ Phần mặt ngoài bên phải của ốp nhựa giá để hàng phía sau bị mài trượt mất nhựa KT: (07x02) cm.
+ Ốp nhựa bảo vệ đèn hậu phía sau xe có bám dính vật chất màu đen dạng cao su KT: (4,2 2,2)cm.
+ Vùng chắn bùn và biển số xe có vùng mài trượt bám dính vật chất màu
đen dạng cao su KT: (28 12)cm, chiều hướng từ dưới lên trên, từ phải sang trái. Đo từ tâm vùng này đến mặt đất là 77cm.
- Kỹ thuật an toàn phương tiện:
+ Hệ thống phanh, còi, đèn không còn hoạt động được do xe bị tai nạn.
+ Lốp trước, lốp sau còn hơi.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 1941/KL-HĐĐGTS ngày 05 tháng 01 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Phú Lương, kết luận: Xe ô tô tải BKS: 20C-045.62 không có thiệt hại về tài sản; Xe mô tô BKS: 20E1 - 360.95: Giá trị thiệt hại là 5.945.000 đồng.
Khám nghiệm tử thi Dương Thị Nh phát hiện có các dấu vết tổn thương:
- Khám bên ngoài:
+ Tử thi mặc áo phao màu vàng, trong mặc áo len màu đỏ, quân nỉ dài màu xám kẻ sọc trắng, quần áo bị mài trượt rách vải.
+ Chiều dài tử thi 1,6 m thể tạng trung bình. Tình trạng tử thi khô lạnh, không được bảo quản theo quy chuẩn.
+ Toàn bộ vùng bụng bị xây sát mài trượt da.
+ Dập rách da cơ toàn bộ tầng sinh môn vùng bẹn hai bên và mặt trước trong đùi phải.
+ Khuỷu tay bên phải bị xây sát da, mài trượt da KT: (3,5x2,5)cm.
+ Đầu gối trái bị xây sát mài trượt da KT: (8x4,5)cm.
+ Vùng sườn lưng, mông bên phải có nhiều vết bầm tím, in hình dạng vân lốp xe.
+ Vùng thắt lưng mông bị xây sát mài trượt da KT (18x16) cm
- Mổ tử thi:
Xương hộp sọ và các khớp xương sọ không bị rạn vỡ.
+ Gãy cung bên xương sườn từ số 04 đến số 10 bên phải.
+ Trong khoang ngực phải có nhiều máu không đông.
+ Phổi bên phải bị dập rách.
+ Gãy đốt sống ngực số 8.
+ Trong ổ bụng có nhiều máu không đông.
+ Dập vỡ gan.
+ Gãy phức tạp xương chậu.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 146/KLGĐTT-KTHS, ngày 08/01/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Dương Thị Nh, sinh năm 1994, nơi đăng ký thường trú tại xã YĐ, huyện PL, tinh TN bị đa chấn thương: gãy nhiều xương sườn, dập phổi, gãy cột sống, vỡ xương chậu, dập các tạng trong ổ bụng dẫn đến chết.
Quá trình điều tra Vũ Ngọc Nh khai nhận: Ngày 26/12/2024, Nh điều khiển xe ô tô BKS: 20C-045.62, chở gỗ keo từ tỉnh Bắc Kạn về thị trấn Đu, trên xe có anh Vũ Đức Định, sinh năm 1977, cùng xóm với Nh. Trong lúc điều khiển xe ô tô BKS: 20C-045.62 chuyển hướng rẽ phải vào đường nhánh về xã Yên Lạc, Nh đã không chú ý quan sát nên đã đâm vào xe mô tô BKS: 20E1-360.95 do chị Dương Thị Nh điều khiển. Hậu quả: Chị Dương Thị Nh tử vong tại hiện trường.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại, chủ xe ô tô và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường. Gia đình bị hại đã nhận bồi thường số tiền 400.000.000đ ( bốn trăm triệu đồng) và không có yêu cầu gì thêm đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Với hành vi nêu trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân thành huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã tuyên bố: Bị cáo Vũ Ngọc Nh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Vũ Ngọc Nh 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành bản án.
Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Vũ Ngọc Nh đến khi bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo, các nội dung khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/6/2025 bị cáo Vũ Ngọc Nh kháng cáo xin hưởng án treo; Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại cấp phúc thẩm và các vấn đề liên quan đến kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc Nh sửa bản án sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân thành huyện PL, tỉnh TN theo hướng giữ nguyên mức hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định và đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hành vi của bị cáo Vũ Ngọc Nh đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh, điều luật trên là có căn cứ.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại các phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả được đại diện hợp pháp của người bị hại chấp thuận đồng ý và có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo; Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm đại diện hợp pháp của người bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo đã nộp tiền án phí sơ thẩm thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình.
Với những phân tích đánh giá như trên, sau khi xem xét toàn diện vụ án Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên không cần phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù, việc cho bị cáo hưởng án treo không gay nguy hiểm cho xã hội không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, theo hướng dẫn tại các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt cho bị cáo hưởng án treo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp thể hiện tính nhân văn cũng như sự khoan hồng của pháp luật giúp bị cáo tự cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; Ghi nhận bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc Nh, sửa bản án sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh Thái Nguyên (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên)
1. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc Nh 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Giao bị cáo Vũ Ngọc Nh cho Ủy ban nhân dân xã Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại Điều 93 Luật thi hành án hình sự.
2.Về án phí: Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Ngọc Nh không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Ghi nhận bị cáo đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước theo biên lai thu số 0000227 ngày 13/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
3. Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - VKSND khu vực 4; - TAND khu vực 4; - THADS tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Toà HS. | TM HỘI Đ NG XÉT X PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Văn Bản |