- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình S-T"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2025/HNGĐ–ST Ngày: 20/9/2025 V/v tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Thái Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Hoàng;
Bà Phạm Thị Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Quyền – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 8 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 210/2025/TLST – DS ngày 26 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thị S, sinh ngày: 17/4/1986 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp P, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Anh Võ Văn T, sinh ngày: 16/10/1986 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp P, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn ngày 12/02/2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Dương Thị S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị S và anh Võ Văn T chung sống với nhau vào năm 2013 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre, nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Trong thời kỳ hôn nhân chị Dương Thị S và anh Võ Văn T chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng tháng 09 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi vã, không có tiếng nói chung, anh T thường hay cờ bạc gây nợ nần. Chị Dương Thị S và anh Võ Văn T sống ly thân chấm dứt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng từ tháng 09 năm 2020 cho đến nay.
Nay chị Dương Thị S thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa. Vì vậy chị Dương Thị S yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Dương Thị S được ly hôn với anh Võ Văn T.
Về con chung: Chị Dương Thị S và anh Võ Văn T có 01 con chung tên Võ Long D, sinh ngày: 01/5/2014. Hiện con chung đang sống với chị. Chị Dương Thị S yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Không yêu cầu anh Võ Văn T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, về nợ chung: Chị Dương Thị S khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong suốt quá trình tố tụng anh Võ Văn T đều vắng mặt không có lý do mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Vĩnh Long phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
Yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị S là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị S.
Về con chung: Chị Dương Thị S được tiếp tục nuôi con chung Võ Long D, sinh ngày: 01/5/2014 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Dương Thị S nuôi con chung không yêu cầu anh Võ Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, về nợ chung: Chị Dương Thị S khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Quaù trình giaûi quyeát vuï aùn, bò ñôn anh Võ Văn T ñaõ ñöôïc
Trang 2
Toøa aùn trieäu taäp hôïp leä ñeán laàn thöù hai ñeå xeùt xöû, nhöng anh Võ Văn T vaãn vaéng maët khoâng coù lyù do. Chị Dương Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Toøa aùn xeùt xöû vaéng maët anh Võ Văn T, chị Dương Thị S laø phuø hôïp quy ñònh taïi Ñieàu 227, 228 Boä luaät Toá tuïng Daân söï.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Chị Dương Thị S khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn với anh Võ Văn T, yêu cầu nuôi con chung. Do đó quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Theo xác nhận ngày 09/12/2024 của Công an xã T. Anh Võ Văn T có đăng ký thường trú tại: ấp Phước Thạnh, xã T, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, nay là ấp Phước Thạnh, xã T, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Vĩnh Long.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị S và anh Võ Văn T chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 60 ngày 11/8/2017 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long cấp. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Dương Thị S và anh Võ Văn T là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Trong thời kỳ hôn nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, mất lòng tin, không hòa hợp. Anh Võ Văn T và chị Dương Thị S sống ly thân từ tháng 9 năm 2020 cho đến nay vẫn không hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tổ chức hòa giải để tạo điều kiện cho chị Dương Thị S và anh Võ Văn T hàn gắn tình cảm nhưng chị Dương Thị S vẫn kiên quyết xin ly hôn, anh Võ Văn T đều vắng mặt trong các lần hòa giải. Điều đó chứng tỏ anh Võ Văn T, chị Dương Thị S đã không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân này và mâu thuẫn hai bên đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Từ những nhận định nêu trên, căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị S đối với anh Võ Văn T.
Về con chung: Chị Dương Thị S và anh Võ Văn T có 01 con chung tên Võ Long D, sinh ngày: 01/5/2014. Chị Dương Thị S yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay con chung Võ Long D, sinh ngày: 01/5/2014 đang sống chung với chị Dương Thị S vẫn phát triển bình thường. Do đó, nhằm tránh việc xáo trộn về hoàn cảnh, điều kiện sống của con chung nên giao con chung Võ Long D, sinh
Trang 3
ngày: 01/5/2014 cho chị Dương Thị S tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Võ Long D.
Về việc đóng góp nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Dương Thị S nuôi con chung không yêu cầu anh Võ Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị Dương Thị S khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận. Nếu sau này anh Võ Văn T có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
Về nợ chung: Chị Dương Thị S khai không có nên ghi nhận.
Đối với phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Dương Thị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 51, 56, 57, 58, 80, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị S đối với anh Võ Văn T. Chị Dương Thị S được ly hôn với anh Võ Văn T.
[2] Về con chung: Giao con chung tên Võ Long D, sinh ngày: 01/5/2014 cho chị Dương Thị S trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Dương Thị S nuôi con chung không yêu cầu anh Võ Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Võ Văn T không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Chị Dương Thị S trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Võ Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trang 4
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Dương Thị S khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét đến.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Dương Thị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Dương Thị S đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0011292 ngày 26/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 - Vĩnh Long. Vậy chị Dương Thị S đã nộp đủ án phí.
[5] Về quyền kháng cáo:
Chị Dương Thị S, anh Võ Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Vĩnh Long giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND xã T (số 60 ngày 11/8/2017); - VKSND Khu vực 8 - Vĩnh Long; - Cơ quan THADS tỉnh Vĩnh Long; - TAND tỉnh Vĩnh Long; - Lưu hồ sơ vụ án. Trang 5 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Thái Dương |