vanban.org

Bản án 87/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị K được ly hôn anh Đỗ Hồng T1.

Về việc nuôi con chung: Giao con Đỗ Xuân H, sinh ngày 30/7/2020 cho chị Đào Thị K trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị Đào Thị K và anh Đỗ Hồng T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn, người không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị K được ly hôn anh Đỗ Hồng T1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30-5-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con,
chia tài sản khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thuý Mở và bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn T - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 111/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đào Thị K; địa chỉ: Phường T, thành phố T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Đỗ Hồng T1; địa chỉ ĐKTT: Phường T, thành phố T, thành phố Hải Phòng; hiện đang chấp hành án tại Trại giam X; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đào Thị K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Hồng T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình và có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán. Vợ chồng anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, thành phố Hải Phòng) vào ngày 14/11/2018.

Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hoà thuận, hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm sống. Hiện nay anh T1 phải đi chấp hành án tại trại giam nên giữa anh chị không còn tình cảm và không quan tâm đến nhau. Chị K xác định mâu thuẫn giữa chị với anh T1 đã trầm trọng, anh chị không thể tiếp tục chung sống cùng nhau nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1 để chị sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung là Đỗ Xuân H, sinh ngày 30/7/2020. Hiện nay con đang ở với chị, anh T1 hiện chấp hành án trong trại giam, vì vậy ly hôn chị K đề nghị Tòa án giải quyết cho chị trực tiếp nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Đỗ Hồng T1 trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh T1 xác nhận anh và chị Đào Thị K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, thành phố Hải Phòng) vào ngày 14/11/2018.

Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hoà thuận, hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống và bất đồng trong việc làm ăn kinh tế. Nay chị K có đơn đề nghị ly hôn với anh, anh đồng ý.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị có một con chung là Đỗ Xuân H, sinh ngày 30/7/2020. Hiện nay con đang ở với chị K, anh đang chấp hành án nên không có điều kiện để nuôi con, vì vậy anh đồng ý cho chị được trực tiếp nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh đồng ý với ý kiến của chị K.

- Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị K đề nghị không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được. Chị Đào Thị K và anh Đỗ Hồng T1 đều vắng mặt tại phiên tòa, chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của chị K, anh T1.

Kiểm sát viên có ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, xử cho chị Đào Thị K được ly hôn anh Đỗ Hồng T1. Về việc nuôi con chung: Giao con Đỗ Xuân H, sinh ngày 30/7/2020 cho chị K trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị K, anh T1 không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị K, anh T1 không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị K phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Chị Đào Thị K khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn với anh Đỗ Hồng T1 có nơi cư trú tại thành phố T, thành phố Hải Phòng. Đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn là chị Đào Thị K và bị đơn là anh Đỗ Hồng T1 đều có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân:

Chị Đào Thị K và anh Đỗ Hồng T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, thành phố Hải Phòng) vào ngày 14/11/2018. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị K trình bày, quá trình chung sống giữa chị K và anh T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Hiện nay anh T1 đang chấp hành án tại trại giam nên giữa anh chị không còn tình cảm và không quan tâm đến nhau. Xét mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình mà ở đó vợ chồng phải biết yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, phải được xây dựng trên nền tảng tình cảm, sự nỗ lực từ hai phía của cả vợ và chồng. Trên thực tế, mâu thuẫn của chị K và anh T1 đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị K xin ly hôn là tự nguyện, không bị ép buộc. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho Đào Thị K được ly hôn anh Đỗ Hồng T1.

+ Về việc nuôi con chung:

Chị K và anh T1 có một con chung là Đỗ Xuân H, sinh ngày 30/7/2020. Xét hoàn cảnh thực tế, hiện nay con Đỗ Xuân H đang ở với chị K, anh T1 đang chấp hành án tại trại giam nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con Đỗ Xuân H cho chị K trực tiếp nuôi là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh; phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 71, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị K và anh T1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Tuy nhiên, nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

+ Về tài sản chung:

Chị Đào Thị K và anh Đỗ Hồng T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

+ Về án phí:

Chị Đào Thị K là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị K được ly hôn anh Đỗ Hồng T1.

2. Về việc nuôi con chung: Giao con Đỗ Xuân H, sinh ngày 30/7/2020 cho chị Đào Thị K trực tiếp nuôi cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị Đào Thị K và anh Đỗ Hồng T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Tuy nhiên, nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung: Chị Đào Thị K và anh Đỗ Hồng T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đào Thị K phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Đào Thị K đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010486 ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Đào Thị K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án:

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND TP Thuỷ Nguyên;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục THADS TP Thuỷ Nguyên;

- Đương sự;

- UBND xã Thuỷ Triều (nay là UBND phường Thuỷ Hà), TP Thuỷ Nguyên, TP Hải Phòng (ĐKKH số 84/2018 ngày 14/11/2018);

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Đỗ Thị Hạnh CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hạnh Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND TP Thuỷ Nguyên;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục THADS TP Thuỷ Nguyên;

- Đương sự;

- UBND xã Thuỷ Triều (nay là UBND phường Thuỷ Hà), TP Thuỷ Nguyên, TP Hải Phòng (ĐKKH ngày 14/11/2018);

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Đỗ Thị Hạnh CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hạnh CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Khang Lý Thị Thiên Nga

Phạm Trung Dũng

Cỡ chữ