- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huệ-Phúc"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị H đối với ông Đinh Tiến P.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-01-2024 V/v tranh chấp về ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Huy Hoàng
2. Bà Nguyễn Thị Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái- Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 01 năm 2024, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 762/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 658/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18/01/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị H, sinh năm: 1984
Địa chỉ: xã B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
( Bà Bùi Thị H có đơn xin giải quyết vắng mặt lập ngày 04/12/2023)
-
Bị đơn: Ông Đinh Tiến P, sinh năm: 1980
Địa chỉ: xã B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
( Ông Đinh Tiến P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được nguyên đơn bà Bùi Thị H trình bày như sau:
Bà Bùi Thị H và ông Đinh Tiến P chung sống với nhau từ năm 2002, do tự tìm hiểu. có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào năm 2003 tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc bình thường đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, bà H yêu cầu được ly hôn với ông P.
Về con chung: Bà H và ông P có 02 con chung tên Đinh Bùi Thanh N1, sinh năm 2003 (đã trưởng thành) và Đinh Bùi Thanh N2, sinh ngày: 29/02/2012. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ N2 và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Đinh Tiến P vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông P về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung của ông Đinh Tiến P và bà Bùi Thị H.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: chấp nhận bà Bùi Thị H được ly hôn với ông Đinh Tiến P. Về con chung: có 02 con chung tên Đinh Bùi Thanh N1, sinh năm 2003 (đã trưởng thành) và Đinh Bùi Thanh N2, sinh ngày: 29/02/2012. Giao trẻ Đinh Bùi Thanh N2, sinh ngày: 29/02/2012 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Đinh Tiến P. Tài sản chung và nợ chung: không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Bùi Thị H nộp đơn xin ly hôn đối với ông Đinh Tiến P. Ông Đinh Tiến P cư trú tại huyện Bình Chánh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về sự vắng mặt của các đương sự:
Ông Đinh Tiến P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; Bà Bùi Thị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H và ông P theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng mời ông Đinh Tiến P đến Tòa án để giải quyết vụ án tranh chấp về ly hôn giữa bà Bùi Thị H và ông Đinh Tiến P, nhưng ông P không đến Tòa án để giải quyết. Vì vậy, ông P tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Do đó, ông P phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân:
Theo giấy chứng nhận kết hôn số 05, quyển số 01, do Ủy ban nhân dân phường C, thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên cấp ngày 11/02/2003, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị H và ông Đinh Tiến P là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Bùi Thị H xác định vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc.
Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“Tình nghĩa vợ chồng:
1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng”.
Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Bà H trình bày thì trong quá trình chung sống giữa bà H và ông P thường bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ chồng đã không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình về tình nghĩa vợ chồng. Mặt khác, trong quá trình hòa giải tại Tòa, ông P cũng không đến Tòa án tham gia tố tụng theo giấy triệu tập để Tòa án hòa giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của bà H về việc xin được ly hôn với ông Đinh Tiến P.
Về con chung:
Ông P và bà H có 02 con chung tên Đinh Bùi Thanh N1, sinh năm 2003 (đã trưởng thành) và Đinh Bùi Thanh N2, sinh ngày: 29/02/2012. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ N2 và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản ghi nhận ý kiến trẻ thì trẻ N2 muốn sống chung với mẹ. Ông P vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông P về con chung giữa bà H và ông P nên Hội đồng xét xử nghĩ nên xem xét giải quyết vấn đề con chung theo yêu cầu của bà H và theo nguyện vọng của trẻ N2. Nếu sau này, có tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao trẻ Đinh Bùi Thanh N2, sinh ngày: 29/02/2012 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận việc bà H không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông P không đến Tòa án để trình bày ý kiến, yêu cầu về vấn đề tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này, có tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 203, Điều 227, Điều 228 , Điều 217 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị H đối với ông Đinh Tiến P.
Bà Bùi Thị H được ly hôn với ông Đinh Tiến P.
Giấy chứng nhận kết hôn số 05, quyển số 01, do Ủy ban nhân dân phường C, thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên cấp ngày 11/02/2003 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
Bà Bùi Thị H và ông Đinh Tiến P có 02 con chung tên Đinh Bùi Thanh N1, sinh năm 2003 (đã trưởng thành) và Đinh Bùi Thanh N2, sinh ngày: 29/02/2012
Giao trẻ Đinh Bùi Thanh N2, sinh ngày: 29/02/2012, cho bà Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận việc bà H không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Ông Đinh Tiến P có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung, sau này bà Bùi Thị H và ông Đinh Tiến P đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Bùi Thị H và ông Đinh Tiến P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này, có tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định pháp luật.
4. Về án phí: Bà Bùi Thị H chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà bà H đã nộp theo biên lai thu số 0020342 ngày 02/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà H đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND huyện BC; - Chi cục THADS huyện BC; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Thanh Loan |