vanban.org

Bản án 87/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 22/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong: 01 (một) phong bì thư dán kín trong có toàn bộ mẫu giám định và vỏ bao bì còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 294MT/PC09; 01 (một) phong bì thư dán kín trong có toàn bộ mẫu giám định và vỏ bao bì còn lại sau giám định c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án 87 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H B
THÀNH PHỐ H P
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2023/HS-ST
Ngày 22-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H B, THÀNH PHỐ H P

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Văn Khương;

Bà Phạm Thị Kim Thu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trung – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân quận H B, thành phố H P.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận H B, thành phố H P tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận H B, thành phố H P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:

Đ B N, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1964, tại H P. Nơi ĐKHKTT: Số 9 P M Đ, phường M T, quận N Q, thành phố H P; chỗ ở: Số 3/50/109/185 T Đ T, phường A D, quận L C, thành phố H P; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đ V T (đã chết) và bà N T H (đã chết); có chồng là N M T (đã chết) và 03 con; tiền án: Bản án số 566/1998/HSST ngày 02/12/1998 của Toà án nhân dân thành phố H P xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” (chưa xoá án tích), tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 31/3/2023, tạm giam từ ngày 06/4/2023; có mặt.

Người chứng kiến: Ông L T D; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma tuý nên khoảng 19 giờ ngày 27/3/2023, Đ B N đi một mình từ nhà đến khu vực đường tàu T N H, L C, H P mua ma tuý sử dụng cho bản thân. Tại đây, N gặp và mua 01 túi ma tuý “đá” với giá 300.000 đồng của người nam giới không quen biết. Ngoạ mang về nhà thuê tại số 3/50/109/185 T Đ T, phường A D, quận L C, thành phố H P; N sử dụng ống hút nhựa có đầu nhọn, lấy một ít ma tuý vừa mua, cho vào bộ dụng cụ sử dụng có sẵn, dùng bật lửa, tự hút ma tuý. Lượng ma tuý còn lại, N gói vào khẩu trang màu trắng, để trong túi vải thổ cẩm và cất trong cốp xe mô tô BKS 15G1-53649, mục đích sử dụng dần.

Đến tối ngày 28/3/2023, N đi nhặt rác ở đường T H, nhặt được 01 hộp bìa giấy, trong có 01 túi nilon màu đen buộc kín cùng các vỏ chai đã qua sử dụng. N mang hộp bìa giấy về nhà mở ra thì thấy bên trong có 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng và 01 túi nilon mép dán màu xanh có chứa ma tuý “đá”. N cất giấu số ma tuý nhặt được này cùng các đồ vật trong hộp bìa giấy vào tủ bàn thờ, mục đích sử dụng dần. Đến 10 giờ ngày 31/3/2023, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Nouvo màu đỏ đen, BKS15G1-53649 sang khu vực chân cầu Bính thăm người thân, khi đến trước cửa số nhà BH06-33 Vinhome Impreria thì bị Công an kiểm tra, thu giữ ma túy và lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ B N tại số 3/50/109/185 T Đ T, A D, L C, H P; thu giữ: Trong tủ bàn thờ 02 túi nilon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) - Mẫu KX01; 01 túi mép dán màu xanh, bên trong chứa 3,5 viên nén hình tròn màu hồng - Mẫu KX03; 01 ống nhựa hình trụ, bên trong bám dính tạp chất màu trắng (nghi là ma túy) - Mẫu KX04; 01 cân điện tử hình chữ nhật, màu xám và 01 túi nilon chứa nhiều túi nilon hình vuông nhỏ, mép dán màu xanh. Trong hộp kính dưới tượng ông Thọ tại phòng khách thu giữ: 01 túi nilon màu trắng mép dán màu đỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) - Mẫu KX02.

Tại bản Kết luận giám định số 294/KL-KTHS(MT) ngày 05/4/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an thành phố H P, kết luận: “tinh thể màu trắng của mẫu QT gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,33 gam, loại: Methamphetamine”.

Tại bản Kết luận giám định số 297/KL-KTHS(MT) ngày 05/4/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an thành phố H P, kết luận: “tinh thể màu trắng của mẫu KX01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 2,29 gam, loại: Methamphetamine; chất bột màu trắng của mẫu KX02 có khối lượng 2,75 gam, không tìm thấy thành phần chất ma tuý và tiền chất; các viên nén và mảnh vỡ viên nén của mẫu KX03 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,33 gam, loại: Methamphetamine; tinh thể màu trắng bám dính trong đoạn ống nhựa của mẫu KX04 gửi giám định là ma tuý, loại: Methamphetamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma tuý bám dính.”.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì bên trong có toàn bộ mẫu ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong theo số 294MT/PC09, 297MT/PC09, 297MT-A/PC09 của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an thành phố H P; 01 túi vải hoạ tiết thổ cẩm, 01 khẩu trang y tế màu trắng, 01 cân điện tử màu xám hình chữ nhật, 01 túi nilon bên trong chứa nhiều túi nilon vuông nhỏ, mép dán màu xanh; 01 ví màu đen và số tiền 3.350.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 85/CT-VKSHB ngày 31/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận H B truy tố bị cáo Đ B N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận H B. Người chứng kiến là ông L T D được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nhưng đã có lời khai trong hồ sơ và được công bố công khai tại phiên tòa.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận H B giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận H B đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đ B N với mức án từ 07 năm tù đến 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: Lượng ma túy còn lại sau giám định, 01 túi vải hoạ tiết thổ cẩm, 01 khẩu trang y tế màu trắng, 01 cân điện tử màu xám hình chữ nhật, 01 túi nilon bên trong chứa nhiều túi nilon hình vuông nhỏ, mép dán màu xanh. Trả lại bị cáo 01 ví màu đen và số tiền 3.350.000 đồng, nhưng cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo việc thi hành án về án phí. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận H B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận H B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người chứng kiến: Ông L T D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Xét thấy, những người chứng kiến đã có lời khai tại các giai đoạn tố tụng, được công bố công khai tại phiên toà và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người chứng kiến được triệu tập đến phiên toà.

- Về tội danh:

Lời khai nhận của bị cáo Đ B N tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, khẳng định: Do nghiện chất ma túy nên ngày 31/3/2023, tại khu vực trước cửa nhà số BH06-33 Vinhome Impreria, T L, H B, H P, bị cáo Đ B N đã có hành vi cất giữ bất hợp pháp 0,33gam Methamphetamine. Tiến hành khám xét nơi ở của Đ B N thu giữ 2,62gam Methamphetamine do N cất giữ bất hợp pháp trước đó từ ngày 28/3/2023; mục đích Đ B N cất giữ số ma tuý trên là để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo Đ B N đủ yếu tố cấu thành phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về định khung hình phạt:

Ngày 28/3/2023 và ngày 31/3/2023, bị cáo Đ B N đã có hành vi cất giữ bất hợp pháp chất ma tuý để sử dụng cho bản thân theo Kết luận giám định tổng là 2,95gam, loại Methamphetamine. Do đó, bị cáo Đ B N phải chịu tình tiết định khung hình phạt là “Phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân quận H B truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước về cất giữ các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục và răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm chung.

- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt:

Nhân thân bị cáo có 01 tiền án năm 1998 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, chưa được xoá án tích. Nay, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị mức phạt đối với bị cáo là phù hợp, cần chấp nhận.

- Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên toà, nhận thấy bị cáo không có công việc thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định trong 01 bì giấy có dấu niêm phong số 294MT/PC09, số 297MT/PC09, số 297MT-A/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H P; 01 túi vải hoạ tiết thổ cẩm; 01 khẩu trang y tế; 01 cân điện tử; 01 túi nilon chứa nhiều túi nilon hình vuông nhỏ, mép dán màu xanh. Trả lại bị cáo 01 ví màu đen và 3.350.000 đồng do không liên quan đến việc phạm tội, nhưng cần tạm giữ số tiền để đảm bảo việc thi hành án về án phí.

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Đ B N hiện chưa xác định được căn cước, Công an quận H B tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xét.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Nouvo, màu đỏ đen, BKS 15G1-53649, tài liệu điều tra đã xác định được chủ sở hữu và đã trả lại xe cho chủ sở hữu là chị Ngô Thuỷ Nhung, nên Hội đồng xét xử không xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đ B N 07 (bẩy) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ ngày 31 tháng 3 năm 2023.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong: 01 (một) phong bì thư dán kín trong có toàn bộ mẫu giám định và vỏ bao bì còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 294MT/PC09; 01 (một) phong bì thư dán kín trong có toàn bộ mẫu giám định và vỏ bao bì còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 294MT/PC09; 01 (một) phong bì thư dán kín trong có toàn bộ mẫu giám định và vỏ bao bì còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 297MT-A/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H P; 01 (một) túi vải hoạ tiết thổ cẩm; 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng; 01 (một) cân điện tử màu xám hình chữ nhật; 01 (một) túi nilon chứa nhiều túi nilon hình vuông nhỏ, mép dán màu xanh.

Trả lại bị cáo Đ B N 01 (một) ví màu đen và số tiền 3.350.000 (ba triệu, ba trăm, năm mươi nghìn) đồng, nhưng cần tạm giữ số tiền để đảm bảo việc thi hành án về án phí.

(Đặc điểm vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 62/QĐ-VKSHB ngày 21/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận H B; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/8/2023 giữa Công an quận H B và Chi cục Thi hành án dân sự quận H B; Biên lai thu tiền số 0006124 ngày 31/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận H B, thành phố H P)

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Đ B N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự này thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ