vanban.org

Bản án 87/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Tuyên án 23/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên ố ị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,1420 gam (Không phẩy một nghìn bốn trăm hai mươi gam) mẫu vật gửi giám định và toàn ộ ao g i quản lý của Nguyễn Văn Q trong phong ì hoàn trả mẫu vật giám định số 472/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên ố ị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87 /2023/HS-ST
Ngày 23 - 8 – 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Liên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Loan.

Ông Nguyễn Công Tụ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2023, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với ị cáo:

Nguyễn Văn Q, sinh ngày 01/5/1968 tại thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Tổ a, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn K và à Đoàn Thị L(đều đã chết), ông K là thương inh ¾; c v : Vũ Thị V, sinh năm 1973 và 02 con, sinh năm 1991 và 2001; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tháng 03/1986 tham gia nghĩa vụ quân sự đến tháng 01/1989 xuất ngũ về địa phương. Quyết định số 195 ngày 21/01/2008 của Chủ tịch Ủy an nhân dân tỉnh Thái Bình áp dụng iện pháp đưa vào cơ sở giáo dục Suối Hai, thời hạn 24 tháng do nhiều lần trộm cắp tài sản, ngày 15/12/2009 chấp hành xong. Quyết định số 1236 ngày 06/7/2010 của Chủ tịch Ủy an nhân dân tỉnh Thái Bình áp dụng iện pháp đưa vào cơ sở giáo dục Thanh Hà, thời hạn 24 tháng, do nhiều lần trộm cắp tài sản, ngày 30/4/2012 chấp hành xong. Ngày 27/11/2012, Công an huyện Quỳnh Phụ xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản. Bản án số 26/2006/HSST ngày 22/9/2006 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 27/3/2007 chấp hành xong án phạt tù, tháng 12/2006 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm. Bản án số 01/2013/HSST ngày 07/01/2013 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải phòng phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 28/01/2014, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm tháng 4/2015. Bản án số 33/2014/HSST ngày 21/8/2014 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 17/02/2015, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm tháng 12/2014; bị tạm giữ từ ngày 03/4/2023 đến ngày 12/4/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang ị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (có mặt).

Người chứng kiến:

1. Anh Vũ Đức D, sinh năm 1972.

2. Anh Vũ Hồng V, sinh năm 1971.

Cùng cư trú: Tổ 10, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình ( u v ng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m tắt như sau: Hồi 09 giờ 45 phút ngày 03/4/2023, tại khu vực tổ 10, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện Nguyễn Văn Q đang điều khiển xe máy điện màu xanh đen, nhãn hiệu M133 c iểu hiện liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu Q về trụ sở Công an thị trấn A, huyện Q để làm việc. Tại đây, tổ công tác tiến hành kiểm tra, thu giữ tại túi quần ên trái, phía trước Q đang mặc 01 g i giấy ạc bên trong là giấy trắng c dòng kẻ chứa chất ột màu trắng dạng cục. Q khai nhận đ là g i Heroine Q vừa mua để sử dụng cho ản thân. Tổ Công tác đã lập iên ản ắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.

Kiểm tra chiếc xe máy điện không phát hiện, thu giữ gì.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo không phát hiện, thu giữ gì.

Bản kết luận giám định số 472/KL-KTHS, ngày 05/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu vật trong phong bì niêm phong gửi giám ịnh là ma túy, loại Hêrôin (Heroine) có tên khoa học là Diacetylmorphine, ược quy ịnh tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa ổi bổ sung năm 2017) và Nghị ịnh 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy ịnh các danh mục chất ma túy và ti n chất, có khối lượng 0,1710 gam. Heroine STT: 09 Danh mục 1A phụ luc kèm theo Nghị ịnh 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Quá trình điều tra ị cáo khai: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 03/4/2023, ị cáo điều khiển xe máy điện từ nhà đến khu vực nghĩa trang thuộc tổ 10, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình mua 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng của một người đàn ông tên L, khoảng 30 tuổi, nhưng do ị cáo không c tiền nên L cho ị cáo n trả sau. Bị cáo giấu gói ma túy vào túi quần ên trái phía trước đang mặc lên xe đi đư c một đoạn thì ị phát hiện, ắt giữ. Quá trình từ khi khởi tố vụ án đến ngày 28/6/2023, ị cáo không c ý kiến gì về khối lư ng ma túy cơ quan Công an thu giữ. Từ ngày 29/6/2023 ị cáo khai khối lư ng chất ma túy ị cáo tàng trữ là 0,0731 gam Heroine chứ không phải 0,1710 gam, ị cáo khai chỉ nhớ khi cơ quan giám định cân là 0,0731 gam, không cung cấp đư c chứng cứ, tài liệu chứng minh.

Tại phiên tòa, ị cáo nhất trí khối lư ng heroine là 0,1710 gam như kết luận giám định.

Bản cáo trạng số 76/CT-VKSQP ngày 10/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên ố ị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt ị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2023; không áp dụng hình phạt ổ sung là phạt tiền đối với ị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không c ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo n i lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi của mình và xin giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo đã đủ tuổi và c năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức đư c hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, hành vi của ị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Tại phiên tòa, ị cáo khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội như nội dung ản cáo trạng đã tuy tố. Lời khai của ị cáo tại phiên tòa phù h p với các lời khai của ị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và đư c chứng minh ng các tài liệu, chứng cứ: Biên ản ắt người phạm tội quả tang; iên ản quản lý, niêm phong đồ vật ị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ lập cùng ngày 03/4/2023; ản tự khai và iên ản ghi lời khai của những người chứng kiến; Kết luận giám định số 472/Kl-KTHS, ngày 05/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đư c thẩm tra tại phiên tòa.

Do đ c đủ cơ sở kết luận: Hồi 09 giờ 45 phút ngày 03/4/2023, tại khu vực tổ 10, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình Nguyễn Văn Q đã c hành vi tang trữ trái phép trên người 01 gói ma túy, loại Heroine, c khối lư ng 0,1710 gam (Không phẩy một nghìn bẩy trăm mười gam), mục đích để sử dụng cho ản thân. Hành vi của ị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt đư c quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục ích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau ây, thì bị phạt tù từ 01 năm ến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam ến dưới 05 gam.”

…

Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ truy tố và kết luận ị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn c căn cứ.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của ị cáo thấy: Tệ nạn ma túy gây tác hại lớn tới con người và là một trong những nguyên nhân hàng đầu kìm hãm sự phát triển kinh tế, văn h a, gây ra nhiều tệ nạn khác kéo theo. Hành vi của ị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương, tội phạm ị cáo thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng; vì vậy ị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi ị cáo đã gây ra.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của ị cáo: Bị cáo không ị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ị cáo đã thành thật khai nhận toàn ộ diễn iến hành vi phạm tội, do đ đư c hưởng tỉnh tiết giảm nh trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, có bố đẻ là thương inh do đ ị cáo đư c hưởng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về nhân thân: Bị cáo hai lần ị áp dụng iện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, một lần ị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và ba lần ị kết án về tội trộm cắp tài sản, đã đư c pháp luật cải tạo, giáo dục nhưng ị cáo không lấy đ làm ài học để sửa đổi, vẫn tiếp tục con đường phạm tội, đây là tình tiết cần xem xét khi lư ng hình đối với ị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của ị cáo đã phân tích trên, thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù c thời hạn, cách ly ị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, như mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị để cải tạo, giáo dục ị cáo và c tác dụng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt ổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì ị cáo c thể ị áp dụng hình phạt ổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của ị cáo tại phiên tòa cho thấy ị cáo nghiện ma túy, tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho ản thân, ị cáo lao động tự do thu nhập không ổn định, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt ổ sung là phạt tiền đối với ị cáo.

Bị cáo khai người án ma túy cho ị cáo tên là L ở thị trấn A, huyện Q nhưng không iết cụ thể địa chỉ của L. Kết quả điều tra xác minh ở thị trấn A không c người nào tên L như ị cáo mô tả, do đ không c căn cứ xác định người đã án ma túy cho ị cáo, vì vậy cơ quan điều tra không c cơ sở để điều tra xử lý.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của ị cáo 01 g i ma túy, kết quả giám định kết luận là ma túy loại Heroine và hoàn trả mẫu vật sau giám định. Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, do đ cần tịch thu để tiêu hủy là phù h p với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe máy điện ị cáo sử dụng đi mua ma túy là tài sản của chị Vũ Thị V (v ị cáo). Chị V mua chiếc xe này từ nguồn tiền của chị để làm phương tiện đi lại chung cho cả gia đình. Chị không iết ị cáo sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy, do đ cơ quan điều tra không xử lý đối với chị V và ra quyết định trả lại chiếc xe trên cho chị V là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo c quyền kháng cáo ản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên ố ị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt ị cáo Nguyễn Văn Q 02(hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 4 năm 2023.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,1420 gam (Không phẩy một nghìn bốn trăm hai mươi gam) mẫu vật gửi giám định và toàn ộ ao g i quản lý của Nguyễn Văn Q trong phong ì hoàn trả mẫu vật giám định số 472/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình.

Vật chứng trên ang ược chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát i u tra Công an huyện và chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày 11/7/2023.

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn ồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ