vanban.org

Bản án 87/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 20/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Trọng Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Mai Trọng Đ 3 (ba) năm tù. Thời hạn ch p h nh hình phạt tù tính từ ng y 12 tháng 3 năm 2023. 2. Về án phí: bị cáo Mai Trọng Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Trọng Đ - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Trọng Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2023/HS-ST
Ngày: 20-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Độ;

Ông Nguyễn Minh Tâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huy n B u B ng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: B Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n B u B ng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2023/QĐXXST – HS ngày 05 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Mai Trọng Đ, sinh năm 1992 tại H Tĩnh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã H, huy n L, tỉnh H Tĩnh; nơi ở hi n tại: khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghi p: l m thuê; trình độ học v n: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Mai Trọng B (đã chết) v b Nguyễn Thị T; tiền án: Bản án số 203/2011/HS-ST ng y 21 tháng 11 năm 2011 của To án nhân dân huy n Bến Cát (nay l thị xã B), tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội m có”; Bản án số 269/2012/HSST ngày 27 tháng 12 năm 2012 của Toà án nhân dân huy n Bến Cát (nay là thị xã B), tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 16 (mười sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội m có”, Bản án số 09/2015/HSST ngày 20 tháng 01 năm 2015 của Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội m có” v 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội l 04 (bốn) năm tù; Bản án số 52/2020/HS-ST ng y 02 tháng 3 năm 2020 của To án nhân dân thị xã Thuận An (nay l th nh phố T), tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 12 tháng 3 năm 2023 đến ngày 22 tháng 3 năm 2023 tạm giam cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Thái Văn P, sinh năm 1993; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu vực T, phường T, quận T, Thành phố Cần Thơ; nơi tạm trú: khu phố B, thị tr n L, huy n B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1998; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; nơi tạm trú: khu phố B, thị tr n L, huy n B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mai Trọng Đ l đối tượng có tiền án về tội trộm cắp tài sản và tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Sau khi ra tù Đ không tu chí l m ăn m tiếp tục liên lạc với các đối tượng trộm cắp tài sản để mang đi tiêu thụ cụ thể như sau:

Khoảng tháng 3 năm 2023, sau khi ra tù Đ làm quen với một đối tượng tên H không rõ nhân thân lai lịch hỏi xin H có vi c gì l m không thì giới thi u cho Đ làm chung. H đồng ý sau đó H đưa cho Đ một đi n thoại di động nhãn hi u Nokia 1280 để ti n liên h .

Đến khoảng 19 giờ 30 phút ng y 12 tháng 3 năm 2023, H liên h với Đ nói Đ chạy lên cổng chào khu công nghi p B để mang giúp H một chiếc xe mô tô về khu vực cầu L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để giao lại cho một người bạn của H, Đ đồng ý. Đ bắt xe ôm công ngh G xuống khu vực đã hẹn rồi liên h với H, một lúc sau H mang tới một chiếc xe nhãn hi u Honda Ware Alpha m u trắng biển số 65F1 – 418.63, Đ hỏi H về nguồn gốc của chiếc xe mô tô trên. H nói với Đ “Đây l xe tao trộm”. Sau đó H nói Đ chạy xe về khu vực S đứng ở dưới chân cầu vượt sẽ có người ra l y xe rồi sẽ trả cho Đ 500.000 đồng, Đ đồng ý. Đ chạy xe mô tô trên đi đến đoạn đường M - T, khi đi đến đoạn đường thuộc khu vực phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng tuần tra yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính. Do biết xe mô tô trên là tài sản do trộm cắp nên Đ tăng ga bỏ chạy thì bị lực lượng tuần tra truy đuổi và bắt giữ.

Ngày 12 tháng 3 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n B nhận được đơn trình báo của ông Thái Văn P về vi c khoảng 19 giờ ngày 12 tháng 3 năm 2023, ông P có bị m t một chiếc xe mô tô nhãn hi u Honda Ware Alpha m u trắng biển số 65F1 – 418.63 tại phòng trọ số E dãy A đường N, khu phố B, thị tr n L, huy n B, tỉnh Bình Dương. Công an thị tr n L đã chuyển bộ to n bộ hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n B để điều tra theo đúng thẩm quyền.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận h nh vi phạm tội đã thực hi n đúng như Cáo trạng truy tố; quá trình điều tra bị hại v người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì về h nh vi phạm tội của bị cáo.

Đại di n Vi n kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố h nh vi của bị cáo đủ yếu tố c u thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội m có ”.

Về các v n đề khác của vụ án:

Tại Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn c p ng y 13 tháng 3 năm 2023, Công an huy n B, tỉnh Bình Dương (bút lục số 22) thu giữ của bị cáo 01 (một) xe mô tô nhãn hi u Honda Ware Alpha m u trắng biển số 65F1 – 418.63 số khung RLHJA3905HY243497 số máy JA39E0243479.

Ng y 18 tháng 3 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n B đã ban hành công văn yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự định giá tài sản đối với một xe mô tô nhãn hi u Honda Ware Alpha m u trắng biển số 65F1 – 418.63 số khung RLHJA3905HY243497 số máy JA39E0243479 đăng ký lần đầu năm 2019. Tại Bản kết luận định giá số 19/KL-HDĐGTS ngày22 tháng 3 năm 2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã kết luận một xe mô tô nhãn hi u Honda Ware Alpha màu trắng biển số 65F1 – 418.63 số khung RLHJA3905HY243497 số máy JA39E0243479 đăng ký lần đầu năm 2019 tại thời điểm định giá có giá 12.000.000 (mười hai tri u) đồng.

Tại Phiếu xác minh phương ti n giao thông cơ giới đường bộ ngày 17 tháng 6 năm 2023, xác định xe mô tô biển số 65P1 – 418.63 chủ xe l b Nguyễn Thị V. Bà V cho anh Thái Văn P mượn để l m phương ti n đi lại. Do đó, ngày 10 tháng 7 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n B đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 38/QĐ-HS tiến h nh trao trả lại cho b V. Bà V nhận lại t i sản trên v không có yêu cầu gì thêm.

Ng y 14 tháng 3 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n B đã phối hợp với Công an phường P, th nh phố T, tỉnh Bình Dương truy tìm vật chứng của vụ án l một đi n thoại di động nhãn hi u Nokia 1280 m u đen m bị cáo khai nhận dùng để sử dụng liên lạc với đối tượng H. Tuy nhiên không tìm được vật chứng nói trên do trong quá trình truy đuổi bị cáo đã ném bỏ trên đường nên không xác định được vị trí chính xác.

Đối với đối tượng H l đối tượng trộm xe mô tô trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n B đang tiếp tục điều tra xác minh khi n o có căn cứ sẽ xử lý sau.

Quá trình điều tra và tại phiên to , Kiểm sát viên v bị cáo không có ý kiến gì về các v n đề nêu trên; quá trình điều tra, bị hại v người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có có ý kiến gì về các v n đề nêu trên.

Về trích dẫn cáo trạng của Vi n kiểm sát:

Cáo trạng số 77/CT - VKSBB ngày 07 tháng 8 năm 2023 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Bàu Bàng truy tố bị cáo Mai Trọng Đ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội m có ” theo điểm đ khoản 2 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Bàu Bàng trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về mức hình phạt: áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng v trách nhi m dân sự: đã giải quyết xong

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Vi n kiểm sát v luận tội của Kiểm sát viên.

Bị hại v người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Bị cáo trình b y lời nói sau cùng: bị cáo nhận thức được hành vi của mình l vi phạm pháp luật nên r t hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1.1] Bị hại v người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà không trở ngại cho vi c giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân huy n Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận: khoảng 19 giờ 30 phút ng y 12 tháng 3 năm 2023, dù không hứa hẹn trước với H, bị cáo đã có h nh vi mang 01 (một) xe mô tô biển số 65P1 – 418.63 về khu vực cầu L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giao cho một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch. Bị cáo biết đây l xe do trộm cắp m có nhưng vẫn đồng ý tiêu thụ giúp H. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài li u, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai của bị hại v người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nội dung bản Cáo trạng v phù hợp diễn biến tại phiên tòa. Xe mô tô mà bị cáo mang đi tiêu thụ có giá trị l 12.000.000 (mười hai tri u) đồng. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 l ho n to n đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo l người có đầy đủ năng lực trách nhi m hình sự. H nh vi của bị cáo l r t nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo biết t i sản l do người khác phạm tội m có nhưng vẫn mang đi tiêu thụ. Vì tham lam tư lợi, muốn hưởng thụ nhưng lười lao động nên bị cáo đã thực hi n h nh vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo v mà còn gây m t trật tự trị an trong khu vực. Xét về yếu tố lỗi, bị cáo phạm tội cố ý. Bị cáo l người có 04 tiền án, chưa được xóa án tích. Năm 2020, bị cáo bị To án nhân dân th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo ch p h nh xong hình phạt tù v o ng y 27 tháng 4 năm 2022. Sau khi ra tù bị cáo tiếp tục thực hi n h nh vi phạm tội mới, h nh vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cho nên, đối với hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét nên xử các bị cáo một mức án tương xứng với tính ch t và hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét to n di n các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo như sau.

Tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: bị cáo đã th nh khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình pha t đối với bị cáo tại phiên tòa l phù hợp nên Hội đồng xét xử ch p nhận.

Về xử lý vật chứng: xe mô tô nhãn hi u Honda Ware Alpha m u trắng biển số 65F1 – 418.63 số khung RLHJA3905HY243497 số máy JA39E0243479, Cơ quan Cảnh sát hình sự Công an huy n B đã trả lại cho anh P, xét phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với hành vi của đối tượng tên H không rõ nhân thân lai lịch, khi n o Cơ quan điều tra Công an huy n B, tỉnh Bình Dương xác định được sẽ xử lý sau.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ v o Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 260, Điều 331 v Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý v sử dụng án phí, l phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Mai Trọng Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Mai Trọng Đ 3 (ba) năm tù. Thời hạn ch p h nh hình phạt tù tính từ ng y 12 tháng 3 năm 2023. 2. Về án phí: bị cáo Mai Trọng Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ ngày tuyên án. Bị hại v người có quyền v nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ nhận bản án hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ