- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Kiên và đồng phạm - "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Văn K, Phạm Thị H, Nguyễn Văn P phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/2023/HS-PT Ngày: 22-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Cảnh
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Hà Nam
Ông Mai Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Trần Văn K và đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn K, bị cáo Phạm Thị H và bị cáo Nguyễn Văn P đối với bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.
- Các bị cáo kháng cáo:
1. Họ và tên: Trần Văn K; sinh năm 1986; giới tính: Nam; nơi cư trú: Xóm 3 PT, xã NH, huyện NH, tỉnh NĐ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ học vấn: 12/12; con ông Trần Văn K1, sinh năm 1953 và bà Trần Thị R, sinh năm 1959; có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1987 (đã ly hôn); vợ thứ hai: Vũ Thị T, sinh năm 1989; bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11-5-2018 Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị bắt quả tang, giam giữ từ ngày 05-12-2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định (có mặt).
2. Họ và tên: Phạm Thị H; sinh năm 1974; giới tính: Nữ; nơi cư trú: Xóm 2, PT, xã NH, huyện NH, tỉnh NĐ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm đầm (nuôi thủy sản); trình độ học vấn: 08/12; con ông Phạm Trung H (đã chết) và bà Vũ Thị H, sinh năm 1954; có chồng là Vũ Văn T, sinh năm 1972; bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú, giam giữ từ ngày 05-12-2022 đến ngày 28-12-2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” cho đến nay (có mặt).
3. Họ và tên: Nguyễn Văn P; sinh năm 1967. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Xóm 1 NH, xã NH, huyện NH, tỉnh NĐ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/10; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Đ (đều đã chết); có vợ là Đinh Thị H, sinh năm 1970; bị cáo có 04 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, từ ngày 05-12-2022 đến ngày 28-12-2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” cho đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Trần Ngọc L, sinh năm 1992 (vắng mặt);
Địa chỉ: Xóm 3 PT, xã NH, huyện NH, tỉnh NĐ.
2. Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1990 (vắng mặt);
Địa chỉ: Xóm 2 NH, xã NH, huyện NH, tỉnh NĐ.
- Người làm chứng:
Anh Trần Văn Đứ, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn 10 bị cáo là Trần Văn H; Trần Văn H1; Nguyễn Văn T; Tống Văn C; Trần Ngọc P; Nguyễn Văn C; Lưu Văn V; Nguyễn Văn T; Nguyễn Thị T; Ngô Văn H nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nên HĐXX không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 04-12-2022, Trần Ngọc P đến quán Cà phê Minh Đức thuộc xóm 2, PT, xã NH, huyện NH, tỉnh NĐ do Lưu Văn V là chủ để uống cà phê và xem bóng đá. Tại đây, P gặp V, Trần Văn K, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T, Trần Văn H. Quá trình ngồi chơi uống nước, P rủ mọi người cá độ bóng đá thắng thua bằng tiền trận đấu giữa Pháp và Ba Lan trong khuôn khổ vòng 1/8 World Cup 2022 diễn ra lúc 22 giờ cùng ngày. P sử dụng điện thoại di động kết nối mạng Internet vào website: keonhacai.com để xem các tỷ lệ kèo cược, báo lại để mọi người lựa chọn và đặt cược. Trần Ngọc P đã tham gia cá độ với Trần Văn K 2 kèo bằng 6.000.000 đồng, gồm: kèo tài phạt góc: 5.000.000 đồng và kèo Ba Lan thắng Pháp hiệp 1: 1.000.000 đồng; Nguyễn Văn T 1 kèo Ba Lan thắng Pháp hiệp 1 bằng 1.000.000 đồng; Nguyễn Văn T 1 kèo Ba Lan thắng Pháp hiệp 1 bằng 1.000.000 đồng; Lưu Văn V 3 kèo bằng 3.000.000 đồng, gồm: kèo cược chấp, chọn Ba Lan: 1.000.000 đồng; kèo Ba Lan thắng Pháp hiệp 1: 1.000.000 đồng; kèo xỉu phạt góc: 1.000.000 đồng. Trần Văn H ngồi xem, không tham gia cá độ bóng đá. Ngoài ra, Phúc khai nhận còn cá độ qua tin nhắn điện thoại thông qua ứng dụng Zalo với Ngô Văn H 2 kèo bằng 6.000.000 đồng, gồm: kèo tài xỉu (cả trận), chọn xỉu: 4.000.000 đồng; kèo cược Ba Lan thắng Pháp hiệp 1: 2.000.000 đồng, tài khoản Zalo có tên “Minh Hạnh”; Trần Văn H1 2 kèo bằng 2.000.000 đồng, gồm: kèo cược chấp, chọn Pháp: 1.000.000 đồng; kèo tài xỉu (cả trận), chọn tài: 1.000.000 đồng, tài khoản Zalo có tên “Trần Hoàn”; Trần Ngọc Lệ 2 kèo bằng 1.500.000 đồng, gồm: kèo cược chấp, chọn Pháp: 500.000 đồng; kèo cược chấp, chọn Ba Lan: 1.000.000 đồng, tài khoản Zalo có tên “Bắc kì con” và Nguyễn Văn Th, sinh năm 1990, ở Xóm 2, PT, NH 2 kèo bằng 2.000.000 đồng, gồm: kèo cược chấp, chọn Ba Lan: 1.000.000 đồng; kèo tài xỉu, chọn xỉu: 1.000.000 đồng, qua Messenger Facebook có tên "Nguyên Thoại". Tất cả các đối tượng đã thỏa thuận tỷ lệ kèo cược nhưng chưa chuyển tiền cho nhau. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày tổ công tác Công an huyện Nghĩa Hưng kiểm tra phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội bắt quả tang đối với Trần Ngọc P và Trần Văn K với số tiền cá độ 6.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo còn khai nhận tham gia đánh bạc với hình thức mua bán số lô số đề bằng phương thức, công cụ, thủ đoạn như sau:
Trần Văn K sử dụng điện thoại di động qua tài khoản Zalo có tên “Trần K” để nhận bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn T có tài khoản Zalo tên “Nguyên Tuyên”; Phạm Thị H có tài khoản Zalo tên “Thỏ Thỏ”; Trần Văn H1 có tài khoản Zalo tên “Trần Hoàn” và Nguyễn Văn T có tài khoản Zalo tên “Vũ Tuyền”. K bán giá lô từ 21.600 đồng/1 điểm đến 22.500 đồng/1 điểm; bán giá số đề từ 71% đến 83% tổng số tiền đánh. Phạm Thị H sử dụng điện thoại di động qua tài khoản Zalo “Thỏ Thỏ” để nhận bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn P, có tài khoản Zalo tên “Nguyễn Thị Kim Nhím” và Nguyễn Thị T có tài khoản Zalo tên “Bông Tuyết”. H bán cho P giá 1 điểm lô 21.800 đồng, số đề 74%, lô xiên 80% tổng số tiền đánh; bán cho Tuyết giá 1 điểm lô 22.000 đồng, số đề 75% tổng số tiền đánh. Còn đối với khách qua đường, H bán giá 1 điểm lô 22.000 đồng (mỗi ngày H bán khoảng 50 điểm lô cho khách không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể). Sau đó, H tổng hợp cùng với các số lô, số đề do H tự bỏ tiền ra để chơi chuyển cho K với giá 1 điểm lô là 21.600 đồng, số đề 71% tổng số tiền đánh để hưởng tiền hoa hồng. Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị T nhận bán cho khách qua đường, không rõ tên tuổi, địa chỉ với giá 1 điểm lô 22.500 đồng, sau đó tổng hợp mua của H để hưởng tiền hoa hồng. Trần Văn H1 nhận bán số lô, số đề cho khách qua đường, không rõ tên tuổi, địa chỉ với giá 1 điểm lô 22.500 đồng, sau đó tổng hợp mua của K với giá 21.700 đồng/1 điểm lô, số đề 83% tổng số tiền đánh. Trần Văn H sử dụng điện thoại di động qua tài khoản Zalo “Trần Văn H” bán các số lô, số đề cho Tống Văn C có tài khoản Zalo tên “Nhật Chiến” và Lưu Văn V có tài khoản Zalo tên “Bảng”. H bán cho Chiến và Việt giá 1 điểm lô là 21.800 đồng, số đề là 83% tổng số tiền đánh. Chiến nhận bán số lô, số đề cho khách qua đường, không rõ tên tuổi, địa chỉ với giá 1 điểm lô 23.000 đồng và Việt nhận bán số lô, số đề cho khách qua đường với giá 1 điểm lô 22.500 đồng sau đó tổng hợp mua của H để hưởng tiền chênh lệch. Nguyễn Văn T mua số lô, số đề của Nguyễn Văn C qua nhắn tin điện thoại với giá 1 điểm lô 22.500 đồng. Các đối tượng đều thống nhất tổng hợp tiền thắng thua số lô, số đề sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, luật chơi như sau:
+ Về số lô: Người chơi chọn số bất kì từ 00 đến 99; nếu các số lô chọn trùng với hai số cuối của 27 dãy số giải đặc biệt, giải nhất đến giải bảy xổ số miền Bắc quay mở thưởng cùng ngày hôm đó thì người chơi sẽ nhận được số tiền tương ứng 1 điểm lô bằng 80.000 đồng.
+ Về số đề: Người chơi chọn số bất kỳ từ 00 đến 99; nếu số đề chọn trùng với hai số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền Bắc quay mở thưởng cùng ngày hôm đó thì sẽ được tiền gấp 70 lần số tiền đã ghi (1.000 đồng trúng 70.000 đồng).
+ Về số đề 3 càng: Người chơi chọn 3 số bất kỳ, nếu 03 số cuối cùng của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền Bắc quay mở thưởng cùng ngày hôm đó trùng với số người chơi đã chọn thì sẽ được hưởng số tiền gấp 400 lần (1.000 đồng trúng 400.000 đồng.
+ Lô xiên 2: Người chơi chọn cặp số bất kỳ từ 00 đến 99; nếu cặp số lô chọn trùng với hai số cuối của 27 dãy số giải đặc biệt, giải nhất đến giải bảy xổ số miền Bắc quay mở thưởng cùng ngày hôm đó thì người chơi sẽ nhận được số tiền tương ứng gấp 10 lần (1.000 đồng trúng 10.000 đồng)
+ Lô xiên 3: Người chơi chọn ba cặp số bất kỳ từ 00 đến 99; nếu ba cặp số lô chọn trùng với hai số cuối của 27 dãy số giải đặc biệt, giải nhất đến giải bảy xổ số miền Bắc quay mở thưởng cùng ngày hôm đó thì người chơi sẽ nhận được số tiền tương ứng gấp 40 lần (1.000 đồng trúng 40.000 đồng).
Tất cả các đối tượng đều thỏa thuận tỷ lệ ăn thua nhưng chưa thanh tiền cho nhau. Cụ thể như sau:
1. Trần Văn K:
- Ngày 01-12-2022, K bán số lô cho Nguyễn Văn T: 100 điểm lô x 22.500 đồng = 2.250.000 đồng. Trúng thưởng 70 điểm lô x 80.000 đồng = 5.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 7.850.000 đồng.
- Ngày 02-12-2022, K bán lô đề cho Phạm Thị H và Trần Văn H1 với tổng số tiền đánh bạc là 138.233.000 đồng. Cụ thể:
+ Bán cho Phạm Thị H 1.795 điểm lô x 21.600 đồng = 38.772.000 đồng và 15.640.000 đồng tiền số đề. Trúng thưởng 740 điểm lô x 80.000 đồng = 59.200.000 đồng và 240.000 đồng tiền số đề x 70.000 đồng = 16.800.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 130.412.000 đồng.
+ Bán cho Trần Văn H1 130 điểm lô x 21.700 đồng = 2.821.000 đồng và 1.800.000 đồng tiền số đề. Trúng thưởng 40 điểm lô x 80.000 đồng = 3.200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 7.821.000 đồng.
- Ngày 03-12-2022, K bán lô, đề cho Phạm Thị H, Trần Văn H1 với tổng số tiền đánh bạc là 111.868.000 đồng. Cụ thể:
+ Bán cho Phạm Thị H 1.475 điểm lô x 21.600 đồng = 31.860.000 đồng và 14.820.000 đồng tiền số đề. Trúng thưởng 590 điểm lô x 80.000 đồng = 47.200.000 đồng và 150.000 đồng số đề x 70.000 đồng = 10.500.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 104.380.000 đồng.
+ Bán cho Trần Văn H1 140 điểm lô x 21.700 = 3.038.000 đồng và 2.050.000 đồng tiền số đề. Trúng thưởng 30 điểm lô x 80.000 đồng = 2.400.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 7.488.000 đồng.
- Ngày 04-12-2022, K bán lô, đề cho Phạm Thị H, Trần Văn H1 và bán số lô, đề cho Nguyễn Văn T với tổng số tiền đánh bạc là 122.589.000 đồng. Cụ thể:
+ Bán cho Phạm Thị H 1.870 điểm lô x 21.600 đồng = 40.392.000 đồng và 15.010.000 đồng tiền số đề. Trúng thưởng 505 điểm lô x 80.000 đồng = 40.400.000 đồng và 60.000 đồng số đề x 70.000 đồng = 4.200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 100.002.000 đồng.
+ Nhận của Nguyễn Văn T 350 điểm lô x 21.700 đồng = 7.595.000 đồng và 1.240.000 đồng tiền số đề. Trúng thưởng 50 điểm lô x 80.000 đồng = 4.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 12.835.000 đồng.
+ Nhận của Trần Văn H1 160 điểm lô x 21.700 đồng = 3.472.000 đồng; 1.480.000 đồng tiền số đề. Trúng thưởng 60 điểm lô x 80.000 đồng = 4.800.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 9.752.000 đồng.
2. Phạm Thị H:
Ngoài chuyển bảng lô đề cho Trần Văn K các ngày 02; 03; 04-12-2022, H còn nhận bảng lô, đề của Nguyễn Văn P và Nguyễn Thị T. Cụ thể như sau:
- Ngày 02-12-2022, H nhận của Nguyễn Văn P 1.270 điểm lô x 21.800 đồng = 27.686.000 đồng; 1.008.000 đồng tiền số đề và 270.000 đồng tiền lô xiên. Trúng thưởng 500 điểm lô x 80.000 đồng = 40.000.000 đồng và 50.000 đồng lô xiên x 40.000 đồng = 2.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 70.964.000 đồng.
- Ngày 03-12-2022, H nhận của Nguyễn Văn P 800 điểm lô x 21.800 đồng = 17.440.000 đồng; 1.320.000 đồng tiền số đề và 250.000 đồng tiền số lô xiên. Trúng thưởng 345 điểm lô x 80.000 đồng = 27.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 46.610.000 đồng.
- Ngày 04-12-2022, H nhận của Nguyễn Văn P 1.265 điểm lô x 21.800 đồng = 27.577.000 đồng; 1.940.000 đồng tiền số đề và 190.000 đồng tiền số lô xiên. Trúng thưởng 436 điểm lô x 80.000 đồng = 34.880.000 đồng và 60.000 đồng số đề x 70.000 đồng = 4.200.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 68.787.000 đồng.
+ Nhận của Nguyễn Thị T 136 điểm lô x 22.000 đồng = 2.992.000 đồng và 9.165.000 đồng tiền số đề. Trúng thưởng 07 điểm lô x 80.000 đồng = 560.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 12.717.000 đồng.
3. Nguyễn Văn P:
- Trong các ngày 02; 03; 04-12-2022, P bán số lô, số đề cho khách qua đường, không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể, rồi chuyển bảng lô, đề cho Phạm Thị H với tổng số tiền đánh bạc là 186.361.000 đồng.
4. Trần Văn H:
- Ngày 03-12-2022, Trần Văn H nhận của Tống Văn C 360 điểm lô x 21.800 đồng = 7.848.000 đồng và 1.700.000 đồng tiền số đề. Trúng thưởng 220 điểm lô x 80.000 đồng = 17.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 27.148.000 đồng.
- Ngày 04-12-2022, Trần Văn H nhận của Lưu Văn V 450 điểm lô x 21.800 đồng = 9.810.000 đồng và 1.370.000 đồng tiền số đề. Trúng thưởng 100 điểm lô x 80.000 đồng = 8.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 19.180.0000 đồng.
- Ngày 04-12-2022, Trần Văn H nhận của Tống Văn C 160 điểm lô x 21.800 đồng = 3.488.000 đồng và 300.000 đồng tiền số đề; không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc là 3.788.000 đồng.
5. Trần Văn H1:
- Trong các ngày 02; 03; 04-12-2022, Trần Văn H1 bán số lô, số đề cho khách qua đường, không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể rồi tổng hợp chuyển bảng lô, đề cho Trần Văn K với tổng số tiền đánh bạc là 25.061.000 đồng.
6. Nguyễn Văn T:
- Ngày 21-11-2022, Tuyên mua của Nguyễn Văn C 350 điểm lô x 22.500 đồng = 7.875.000 đồng. Trúng thưởng 150 điểm lô x 80.000 đồng = 12.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 19.875.000 đồng.
- Ngày 01-12-2022, Nguyễn Văn T mua số lô của Trần Văn K với tổng số tiền đánh bạc là 7.850.000 đồng.
7. Tống Văn C: Trong các ngày 03; 04-12-2022, Tống Văn C bán số lô, số đề cho khách qua đường, không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể rồi tổng hợp chuyển bảng số lô, số đề cho Trần Văn H: Ngày 03-12-2022 tổng số tiền đánh bạc là 27.148.000 đồng; ngày 04-12-2022 là 3.788.000 đồng.
8. Nguyễn Văn C: Ngày 21-11-2022, Chúng bán các số lô cho Nguyễn Văn T với tổng số tiền đánh bạc là 19.875.000 đồng.
9. Lưu Văn V: Ngày 04-12-2022, Lưu Văn V bán số lô, số đề cho khách qua đường, không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể rồi tổng hợp chuyển các số lô, số đề cho Trần Văn H với tổng số tiền đánh bạc là 19.180.0000 đồng.
10. Nguyễn Văn T: Ngày 04-12-2022, Nguyễn Văn T mua các số lô, số đề của Trần Văn K với tổng số tiền đánh bạc là 12.835.000 đồng.
11. Nguyễn Thị T: Ngày 04-12-2022, Nguyễn Thị T bán số lô, số đề cho khách qua đường, không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể, sau đó chuyển bảng số lô, đề cho Phạm Thị H với tổng số tiền đánh bạc là 12.717.000 đồng.
Các bị cáo tự nguyện giao nộp tổng số tiền 69.957.000 đồng đã sử dụng vào việc đánh bạc, cụ thể: Nguyễn Văn T: 8.835.000 đồng; Nguyễn Văn T: 10.125.000 đồng; Trần Văn H1: 14.661.000 đồng; Lưu Văn V: 8.000.000 đồng; Phạm Thị H: 10.000.000 đồng; Tống Văn C: 13.336.000 đồng, Trần Văn H: 5.000.000 đồng. Quá trình điều tra đã thu giữ 14 điện thoại di động các loại gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, vỏ màu vàng của Trần Ngọc P; 01 điện thoại di động OPPO, vỏ màu đen của Trần Văn K; 01 điện thoại di động Sam Sung, vỏ màu xanh của Lưu Văn V; 01 điện thoại di động Realme, vỏ màu xanh đen của Trần Văn H; 01 điện thoại OPPO, màu xanh đen và 01 điện thoại di động Iphone XS Max, vỏ màu vàng của Phạm Thị H; 01 điện thoại Sam Sung, vỏ màu đen của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động IPhone 14 Pro Max, vỏ màu tím của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro Max, vỏ màu vàng của Ngô Văn H; 01 điện thoại OPPO, vỏ màu xanh đen của Nguyễn Văn P; 01 điện thoại di động Realme, vỏ màu xanh của Nguyễn Thị T; 01 điện thoại di động Iphone 6S, vỏ màu trắng của Tống Văn C; 01 điện thoại di động OPPO, vỏ màu đen của Nguyễn Văn C; 01 điện thoại di động VIVO, vỏ màu xanh của Trần Văn H1.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng, các bị cáo đều đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2023, Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã quyết định:
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn K, Phạm Thị H, Nguyễn Văn P và các bị cáo khác phạm tội “Đánh bạc”;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 47; Điều 58 BLHS đối với các bị cáo Trần Văn K, Phạm Thị H, Nguyễn Văn P; áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Phạm Thị H.
Căn cứ các Điều 106,136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Xử phạt bị cáo Trần Văn K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05-12-2022.
- Xử phạt bị cáo Phạm Thị H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian giam, giữ từ ngày 05-12-2022 đến ngày 28-12-2022.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05-12-2022 đến ngày 28-12-2022
- Ngoài ra còn tuyên mức hình phat đối với bị cáo Trần Văn H; Trần Văn H1; Nguyễn Văn T; Tống Văn C; Trần Ngọc P; Nguyễn Văn C; Lưu Văn V; Nguyễn Văn T; Nguyễn Thị T; Ngô Văn H và quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 21-6-2023, Trần Văn K và Nguyễn Văn P đều có đơn kháng cáo với nội dung: Hình phạt tù đối với các bị cáo là quá nặng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và xin được hưởng án treo.
Ngày 26-6-2023, Phạm Thị H có đơn kháng cáo với nội dung: Hình phạt tù đối với bị cáo là quá nặng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Trần Văn K, Phạm Thị H và Nguyễn Văn P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương. Sau khi thực hiện tội phạm các bị cáo rất ăn năn hối hận về việc làm của mình, bản thân các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bị cáo K thì con còn nhỏ, bố đẻ tham gia quân đội và là bệnh binh, bố mẹ già yếu, vợ bị cáo không công ăn việc làm ổn định. Bị cáo H có mẹ già yếu, chồng không còn khả năng lao động do ốm đau, bản thân bị cáo là lao động chính. Bị cáo P bản thân nhiều bệnh hiểm nghèo, là lao động chính trong gia đình và trực tiếp thờ cúng liệt sỹ. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Văn K, Phạm Thị H và Nguyễn Văn P làm trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử ở giai đoạn sơ thẩm đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Trần Văn K, Phạm Thị H và Nguyễn Văn P cùng các bị cáo khác về tội đánh bạc là đúng người, đúng tội. Sau khi thực hiện tội phạm các bị cáo rất ăn năn hối hận về việc làm của mình, bản thân các bị cáo có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn. Bị cáo K thì con còn nhỏ, bố đẻ tham gia quân đội và là bệnh binh, bố mẹ già yếu, vợ bị cáo không công ăn việc làm ổn định. Bị cáo H có mẹ già yếu, chồng không còn khả năng lao động do ốm đau, bản thân bị cáo là lao động chính. Bị cáo P bản thân nhiều bệnh hiểm nghèo, là lao động chính trong gia đình và trực tiếp thờ cúng liệt sỹ. Các bị cáo đều có đơn xin cải tạo tại địa phương và được chính quyền địa phương xác nhận về hoàn cảnh gia đình khó khăn và cũng đề nghị cơ quan tố tụng cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phạm Thị H nộp 30.000.000 đồng và bị cáo Nguyễn Văn P nộp 15.000.000 đồng tiền phạt. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS đối với bị cáo K. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS đối với bị cáo H và bị cáo P. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn K, Phạm Thị H, Nguyễn Văn P phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 BLHS. Xử phạt bị cáo Trần Văn K từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Phạm Thị H 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 05-12-2022 đến ngày 28-12-2022.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 05-12-2022 đến ngày 28-12-2022.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm; lời khai của những người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Trần Văn K, Phạm Thị H và Nguyễn Văn P và các bị cáo khác bị xét xử về tội “Đánh bạc” với tình tiết định khung của từng bị cáo như nhận định của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định là đúng người, đúng tội, không oan.
Xét kháng cáo của các bị cáo Trần Văn K, Phạm Thị H và Nguyễn Văn P xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, trị an, an toàn xã hội, Nhà nước nghiêm cấm mọi hoạt động đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nhằm được thua bằng tiền. Do đó cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của từng bị cáo là cần thiết.
Về vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 17 BLHS. Các bị cáo tham gia đánh bạc nhiều lần có số tiền đánh bạc trên 50.000.000 đồng, được xếp theo thứ tự, vị trí, vai trò như sau: Trần Văn K giữ vai trò thứ nhất, Phạm Thị H; Nguyễn Văn P giữ vai trò thứ hai.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với các bị cáo: Các bị cáo đều phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Bị cáo Trần Văn K có bố đẻ tham gia quân đội được Nhà nước tặng thưởng Huy chương nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo Phạm Thị H sau khi phạm tội đã tự ra đầu thú; có nhân thân tốt; trước khi phạm tội đã tích cực hợp tác với Đồn Biên phòng Ngọc Lâm, Bộ đội Biên phòng tỉnh Nam Định trong việc phát hiện tội phạm nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền sử dụng vào việc đánh bạc được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo Nguyễn Văn P: Có nhân thân tốt, có anh trai là Liệt sỹ chống Mỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo đều có đơn trình bày gia đình có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con và có bố mẹ già yếu. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phạm Thị H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 30.000.000 đồng truy thu sung quỹ Nhà nước và bị cáo Nguyễn Văn P nộp 15.000.000 đồng truy thu sung quỹ Nhà nước. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên cần áp dụng cho các bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Trần Văn K và Phạm Thị H mỗi bị cáo 03 năm 06 tháng tù; bị cáo Nguyễn Văn P 03 năm 03 tháng tù là có phần nghiêm khắc với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; vị trí vai trò của các bị cáo trong vụ án đồng phạm; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân, hoàn cảnh của các bị cáo trong vụ án. Do các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy cần chấp nhận phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Trần Văn K, Phạm Thị H và Nguyễn Văn P là thể hiện sự nhân đạo và khoan hồng của pháp luật, nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay.
Xét nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo: Các bị cáo Trần Văn K; Nguyễn Văn P; Phạm Thị H được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 BLHS. Tuy nhiên bị cáo Trần Văn K giữ vai trò đầu trong vụ án, bị cáo cũng đã từng bị đưa ra xét xử về tội đánh bạc nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận phần nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Trần Văn K.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn P và Phạm Thị H thì sau khi thực hiện tội pham, bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, các bị cáo đều có đơn xin cải tạo tại địa phương và được chính quyền địa phương xác nhận về hoàn cảnh gia đình khó khăn và địa phương cũng đề nghị cơ quan tố tụng cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền sử dụng vào việc đánh bạc. Bị cáo H trước khi phạm tội đã tích cực hợp tác với Đồn Biên phòng Ngọc Lâm, Bộ đội Biên phòng tỉnh Nam Định trong việc phát hiện tội phạm; sau khi phạm tội nên đã tự ra đầu thú, có mẹ già yếu, chồng không còn khả năng lao động do ốm đau, bản thân bị cáo là lao động chính. Bị cáo P bản thân nhiều bệnh hiểm nghèo, là lao động chính trong gia đình và trực tiếp thờ cúng liệt sỹ. Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Đối chiếu với quy định của Điều 65 BLHS và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 10-5-2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, xét thấy có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 BLHS, miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cho các bị cáo để các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ sức răn đe giáo dục đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo vừa cải tạo vừa ổn định cuộc sống gia đình để chăm lo cho gia đình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là thể hiện bản chất nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo nhưng vẫn đáp ứng công tác phòng ngừa tội phạm trong tình hình hiện nay.
Do kháng cáo của các bị cáo Trần Văn K, Phạm Thị H, Nguyễn Văn P được chấp nhận nên các bị cáo không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS đối với bị cáo Trần Văn K. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS đối với bị cáo Phạm Thị H, Nguyễn Văn P. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Thị H, Nguyễn Văn P; Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Trần Văn K. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HSST ngày 16-6-2023 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định về phần hình phạt đối với các bị cáo Trần Văn K, Phạm Thị H, Nguyễn Văn P.
2. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn K, Phạm Thị H, Nguyễn Văn P phạm tội “Đánh bạc”.
2.1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS. Xử phạt bị cáo Trần Văn K 3 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05-12-2022.
2.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Phạm Thị H 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 5 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 05-12-2022 đến ngày 28-12-2022.
2.3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 5 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 05-12-2022 đến ngày 28-12-2022.
2.4. Giao bị cáo Phạm Thị H, Nguyễn Văn P cho UBND xã Nghĩa Hải, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp các bị cáo chuyển nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục đươc thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Các bị cáo Trần Văn K, Phạm Thị H, Nguyễn Văn P không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị;
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án thì người bị thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Nam Định; - TA - CA - VKSND huyện Nghĩa Hưng; - CC. THADS huyện Nghĩa Hưng; - Các bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đức Cảnh |