vanban.org

Bản án 87/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/04/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu về việc buộc nguyên đơn trả tiền lãi từ ngày 20-11-2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngan hang S - Ly Quoc Dang K"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2022/DS-ST
Ngày: 19-4-2022.
V/v tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hoàng Việt

2. Bà Bùi Thúy Hiền.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 56/2021/DSST ngày 21 tháng 01 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 566/2022/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1042/2022/QĐST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Tài chính MTV S

Trụ sở: Tôn Đức Thắng, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Đức D, sinh năm 1997 (Giấy ủy quyền số 0012/2020/UQ-KK-SVFC ngày 25/11/2020 và Giấy ủy quyền số 12/UQ-QP ngày 14/01/2021).

Địa chỉ liên lạc: thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Lý Quốc Đăng K, sinh năm 1988.

Địa chỉ: phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn - Công ty Tài chính MTV S Việt Nam (gọi tắt là Công ty S) có ông Phan Đức D là đại diện theo ủy quyền trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa:

Ngày 26-9-2018, ông Lý Quốc Đăng K có ký Hợp đồng cho vay số 11176592 với Công ty Tài chính MTV S Việt Nam, số tiền vay là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), phí bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm: 2.471.000 đồng (số tiền phí bảo hiểm này được trừ vào số tiền vay trước khi giải ngân) với lãi suất thỏa thuận là 26%/năm (tính trên dư nợ giảm dần); mục đích vay: Chi phí sửa chữa nhà ở, mua nhà ở; Theo thỏa thuận ban đầu trong hợp đồng, ông Lý Quốc Đăng K có trách nhiệm thanh toán số tiền 143.550.800 đồng (gồm cả tiền gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng, kỳ đầu tiên sẽ thanh toán số tiền 2.533.200 đồng, từ kỳ thứ 02 đến kỳ 35 sẽ thanh toán số tiền 4.092.100 đồng/tháng, kỳ cuối cùng sẽ thanh toán số tiền là 4.028.200 đồng, ngày thanh toán đầu tiên bắt đầu vào ngày 05-10-2018, sau đó ngày thanh toán thỏa thuận là vào ngày 05 hàng tháng.

Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã nhận đủ số tiền để làm chi phí sửa chữa nhà ở, mua nhà ở và thanh toán cho S được 23 lần với tổng số tiền đã trả 71.657.768 đồng. Kể từ ngày 30/09/2020, ông Lý Quốc Đăng K không thanh toán thêm bất cứ khoản nào cho tới nay dù Công ty S đã nhắc nhở, yêu cầu thanh toán nhiều lần.

Do khách hàng trễ hạn thanh toán nên Công ty Tài chính MTV S Việt Nam khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lý Quốc Đăng K thanh lý hợp đồng trả cho Công ty một lần số tiền nợ bao gồm: Nợ gốc: 58.219.752 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 02-11-2020: 9.812.148 đồng. Tổng cộng: 68.031.900 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 20-11-2020 ông Lý Quốc Đăng K đã trả cho Công ty S số tiền 4.050.000 đồng.

Ngày 22-02-2022, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông Lý Quốc Đăng K thanh toán tiền lãi kể từ ngày 03-11-2020.

Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lý Quốc Đăng K thanh toán số tiền còn nợ là 63.981.900 đồng.

- Bị đơn - ông Lý Quốc Đăng K: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật: Tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập tham gia xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho ông Lý Quốc Đăng K. Tuy nhiên, tại tất cả các buổi làm việc theo giấy triệu tập ông K vắng mặt không lý do, không cung cấp văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

.Về pháp luật tố tụng:

1.1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Nguyên đơn Công ty Tài chính MTV S Việt Nam và bị đơn ông Lý Quốc Đăng K giao kết hợp đồng cho vay ngày 26-9-2018. Trong quá trình thực hiện hợp đồng do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ còn thiếu theo thỏa thuận của các bên.

Căn cứ kết quả xác minh ngày 11-11-2021 của Công an phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng thực tế không cư trú tại địa chỉ trên, hiện đương sự cư ngụ tại nhà bên vợ địa chỉ Phường 14, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ kết quả xác minh của Công an Phường 14, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: Tại địa chỉ Phường 14, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh không có ông Lý Quốc Đăng K, sinh năm 1988 đăng ký thường trú, tạm trú, không có mặt tại địa phương. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cũng không cung cấp được địa chỉ mới của bị đơn. Do đó có cơ sở xác định địa chỉ phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh là địa chỉ ông K đã từng cư trú được thể hiện trong hợp đồng tín dụng các bên giao kết. Căn cứ khoản 3 Điều 5, điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì nguyên đơn đã ghi đúng và đầy đủ địa chỉ nơi cư trú của bị đơn được ghi trong hợp đồng.

Do đó, địa chỉ số phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1.2. Về tư cách đương sự:

Nguyên đơn - Công ty Tài chính MTV S Việt Nam ủy quyền cho ông Phan Đức D tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; ông Dũng đã có đơn đề ngày 22-02-2022 xin vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm; bị đơn là ông Lý Quốc Đăng K mặc dù Tòa án đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để đảm bảo sự khách quan, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn nhưng bị đơn đã không đến Tòa tham gia tố tụng hoặc gửi văn bản trình bày, ý kiến, yêu cầu của mình đối với ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt lần thứ hai không lý do. Do vậy Hội đồng tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về pháp luật nội dung:

2.1. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 63.981.900 đồng, hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ Phiếu đề nghị cấp khoản vay và Hợp đồng cho vay số 11176592 ngày 26-9-2018 giữa ông Lý Quốc Đăng K và Công ty TNHH MTV Tài chính Prudential Việt Nam (nay là Công ty Tài chính MTV S Việt Nam) có cơ sở xác định: Công ty S có cho ông Lý Quốc Đăng K vay số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), phí bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm: 2.471.000 đồng (số tiền phí bảo hiểm này được trừ vào số tiền vay trước khi giải ngân) với lãi suất thỏa thuận là 26%/năm (tính trên dư nợ giảm dần); mục đích vay: Chi phí sửa chữa nhà ở, mua nhà ở; Theo thỏa thuận ban đầu trong hợp đồng, ông Lý Quốc Đăng K có trách nhiệm thanh toán số tiền 143.550.800 đồng (gồm cả tiền gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng, kỳ đầu tiên sẽ thanh toán số tiền 2.533.200 đồng, từ kỳ thứ 02 đến kỳ 35 sẽ thanh toán số tiền 4.092.100 đồng/tháng, kỳ cuối cùng sẽ thanh toán số tiền là 4.028.200 đồng, ngày thanh toán đầu tiên bắt đầu vào ngày 05-10-2018, sau đó ngày thanh toán thỏa thuận là vào ngày 05 hàng tháng. Việc giao kết hợp đồng vay tài sản giữa Công ty S và ông K là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, căn cứ bảng chi tiết các giao dịch do nguyên đơn cung cấp và lời trình bày của nguyên đơn có cơ sở xác định, ông Lý Quốc Đăng K còn nợ Công ty S số tiền 63.981.900 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bị đơn có văn bản trình bày ý kiến và cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh cho việc đã thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng, tuy nhiên dựa theo bảng sao kê lịch sử thanh toán do Ngân hàng cung cấp, không có chứng cứ nào cho thấy ông K đã thanh toán số tiền nợ cho Công ty S. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lý Quốc Đăng K có trách nhiệm trả cho Công ty S số tiền nợ còn lại là 63.981.900 đồng.

2.2. Về yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông Lý Quốc Đăng K tiếp tục thanh toán tiền lãi về sau: Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, không trái qui định của pháp luật nên hội đồng xét xử chấp nhận.

Về thời hạn thanh toán: Hội đồng xét xử xét thấy, do ông K vi phạm thời hạn trả nợ như thỏa thuận đã ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty S. Do đó, Công ty S yêu cầu ông K phải thanh toán hết một lần số tiền còn nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Bị đơn ông Lý Quốc Đăng K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.199.095 đồng. Nguyên đơn Công ty Tài chính MTV S Việt Nam không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

. Quyền kháng cáo:

Các bên đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu về việc buộc nguyên đơn trả tiền lãi từ ngày 20-11-2020.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Công ty Tài chính MTV S Việt Nam: Buộc ông Lý Quốc Đăng K phải thanh toán Công ty Tài chính MTV S Việt Nam số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay số 11176592 ngày 26-9-2018 là 63.981.900 đồng. Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi handh án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Ông Lý Quốc Đăng K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.199.095 đồng.

Công ty Tài chính MTV S Việt Nam không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Công ty Tài chính MTV S Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.618.950 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0030396 ngày 21-01-2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo:

Công ty Tài chính MTV S Việt Nam và ông Lý Quốc Đăng K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ