- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư bên trong có chứa vật chứng ma túy (Methamphetamine) còn lại sau khi đã lấy mẫu đi giám định thu giữ Nguyễn Văn H. Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại …
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 87/ 2021/HSST Ngày: 30/3/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Lâm.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Hải
Bà Nguyễn Thị Dung
- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Hiên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2021/HSST, ngày 12 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số119/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 02/9/1987 tại xã L, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm 5, xã L, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Họ và tên cha: Không xác định; Họ và tên mẹ: Thái Thị L (đã chết); Họ và tên vợ: Trần Thị D, sinh năm 1993; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Ông Tô Anh Đ, sinh năm 1956 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 40 phút ngày 17/10/2020, Nguyễn Văn H đi xe máy từ nhà đến xóm 1, xã L, huyện D, tỉnh Nghệ An để mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến một quán tạp hóa bên đường Quốc lộ 48, Nguyễn Văn H gặp một người phụ nữ không quen biết và hỏi "Chị bán cho em bốn trăm nghìn đồng ma túy", người phụ nữ đó đồng ý. H lấy 400.000 đồng ra đưa cho người phụ nữ, người phụ nữ đó cầm tiền và đi vào trong quán một lúc sau quay ra đưa cho H một gói ma túy. H cầm gói ma túy trên tay rồi đi về nhà, khi đến đoạn đường liên xã thuộc xóm 3, xã L thì bị lực lượng Công an xã L, huyện D phát hiện, lúc này H liền thả gói ma túy vừa mua được xuống mặt đường thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ, thu giữ ở mặt đường ngay vị trí chân H đang đứng 01 gói ma túy bên ngoài được gói bằng bao nilon màu đen, bên trong có chứa 04 viên nén màu hồng. Lực lượng Công an đã niêm phong số vật chứng trên, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Sau đó chuyển hồ sơ, vật chứng và Nguyễn Văn H cho Cơ quan CSĐT Công an huyện D điều tra xử lý theo quy định pháp luật
Tại bản kết luận giám định số 1435/KL-PC09 ngày 22/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An xác định: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn H gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). 04 (Bốn) viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn H có tổng khối lượng 0,4 (Không phẩy bốn) gam.
* Về việc thu giữ và xử lý vật chứng:
Đối với số vật chứng còn lại thu giữ của Nguyễn Văn H sau khi bóc mở niêm phong, cân xác định khối lượng, lấy mẫu giám định được niêm phong lại theo đúng quy định. Hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu.
Cáo trạng số 17/CT-VKSDC, ngày 12/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư được dán kín và niêm phong đúng quy định, bên trong có chứa vật chứng ma túy (Methamphetamine) còn lại sau khi đã lấy mẫu đi giám định thu giữ của Nguyễn Văn H.
Bị cáo không tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 17/10/2020, tại khu vực đường liên xã thuộc xóm 3, xã L, huyện D, tỉnh Nghệ An, Công an xã L, huyện D, tỉnh Nghệ An đã kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,4 gam ma túy (Methamphetamine). Nguyễn Văn H mua về mục đích để sử dụng. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của BLHS năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện D đã truy tố bị cáo về điều khoản, và tội danh như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất vụ án: Xét vụ án thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người nghiện ma túy, bất chấp sự nghiêm cấm của luật pháp để thực hiện hành vi phạm tội miễn sao có lợi và nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của mình. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.
Về việc đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, như vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn. Hội đồng xét xử xét miễn áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Đối với người phụ nữ bán mua túy cho Nguyễn Văn H (theo lời khai của Hoàng), quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có cơ sơ để xác minh xử lý.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư được dán kín và niêm phong đúng quy định, bên trong có chứa vật chứng ma túy (Methamphetamine) còn lại sau khi đã lấy mẫu đi giám định thu giữ của Nguyễn Văn H.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 ( Mười lăm) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/10/2020.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư bên trong có chứa vật chứng ma túy (Methamphetamine) còn lại sau khi đã lấy mẫu đi giám định thu giữ Nguyễn Văn H. Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/01/2021.
Về án phí: Căn cứ vào điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơinhận:
| - Bị cáo; - Những người TGTT; - VKS huyện D; - VKS tỉnh Nghệ An - TAND tỉnh Nghệ An ; - Công an huyện (NVCS); - Chi cục THA dân sự h.D; - THA hình sự; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ + lưu trữ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đình Lâm |